vanban.org

Bản án 41/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 13/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (Bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HSST
Ngày 13-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phùng Văn Thức

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Mai Như Chi

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam R, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Bị Cáo: Nguyễn Văn H; Sinh năm 1993, tại Nha Trang, Khánh Hòa; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ; Mẹ: Trương Thị Ng; Anh, chị, em: Có 4 người; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Ngày 12/7/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 27 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 15/01/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 63 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2015; Ngày 10/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/01/2020. Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24 tháng 11 năm 2022 đến nay tại nhà tạm giữ Công an Thành phố Cam R. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Bị cáo: Đỗ Thị Ngọc H – Sinh năm 1996, tại Nha Trang, Khánh Hòa; Nơi cư trú: 84/29 Đồng N, phường Phước H, thành phố Nha Tr, tỉnh Khánh H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ; Mẹ: Đỗ Thị C; Anh, chị, em: Có 03 người; Chồng chưa; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2022. Nhân thân: Ngày 22/4/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2015. Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3/ Bị hại:

- Bà Trần Thị Mộng V - sinh năm: 1999

Trú tại: Thôn 5, Ninh S, thị xã Ninh H, tỉnh Khánh H. Vắng mặt.

4/ Người làm chứng:

- Bà Trần Thị Thanh T - sinh năm: 1994

Trú tại: Thôn 5, Ninh S, thị xã Ninh H, tỉnh Khánh H. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn H - sinh năm: 1992

Trú tại: 90/2/4 Đồng N, phường Phước H, thành phố Nha Tr, tỉnh Khánh H. Vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Ngọc M - sinh năm: 1984

Trú tại: 90/2/4 Đồng N, phường Phước H, thành phố Nha Tr, tỉnh Khánh H. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Vũ Đức Th – Sinh năm 2022

Trú tại: Thôn Tà Gi 1, xã Thành S, huyện Khánh S, tỉnh Khánh H. Vắng mặt.

- Ông Trần Th – Sinh năm 1983

Trú tại: 71/19A Hà Th, phường Vạn Th, thành phố Nha Tr, tỉnh Khánh H. Vắng mặt.

- Ông Đỗ Ngọc Q – Sinh năm 1979

Trú tại: Thôn Hòa D 7, xã Cam Thành N, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Vắng mặt.

- Ông Võ Thành N – Sinh năm 1992

Trú tại: Thôn Tân Ph, xã Ninh X, thị xã Ninh H, tỉnh Khánh H. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 25/01/2021, Nguyễn Văn H, Đỗ Thị Ngọc H đến phòng trọ số 2 của Nguyễn Thị Ngọc M ở tổ dân phố Mỹ C, phường Cam Ngh, thành phố Cam R để ăn nhậu.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H đi ra thấy xe mô tô 79H1-950.49 của chị Trần Thị Mộng V đang dựng trước phòng trọ số 7, không có người trông coi . H nảy sịnh ý định trộm cắp tài sản. H đi đến, thấy xe không khóa cổ nên ngồi lên yên xe dùng chân đẩy ra ngoài dãy trọ. Lúc này, H điều khiển xe mô tô 79N1-138.68 đi ra thì thấy Hùng đang dùng chân đẩy xe đi. H nói với H xe H mới lấy trộm và nhờ H đẩy xe về Nha Trang. Hạnh đồng ý. H điều khiển xe mô tô 79N1-138.68 dùng chân đẩy xe H về số 30 Vương Dương, phường Vĩnh Xuân, Nha Tranh cất dấu xe.

Sau đó, biết bị phát hiện nên H bàn với H đưa xe đi trả lại cho chị V. Khoảng 16 giờ ngày 26/01/2021, H dắt xe mô tô 79H1-950.49 đến tiệm sửa xe của Võ Thành N tại số 107 Vân Đ, phường Phước H, thành phố Nha Tr giả vờ nói xe bị hư nên nhờ sửa. Sau đó H gọi điện thoại cho chị M nói chị V đến tiệm sửa xe theo địa chỉ trên để nhận xe. Sau đó, Công an phường Phước H, thành phố Nha Trang thu giữ chiếc xe trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 05/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô 79H1-950.49 trị giá 66.600.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKSCR-HS, ngày 10 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Thị Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội hành vi “Trộm cắp tài sản” của các bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điểm b, s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Đỗ Thị Ngọc H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Phần dân sự: Bị hại Trần Thị Mộng V đã nhận tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về vật chứng:

+ Xe mô tô 79H1-950.49 đã trả cho chủ sở hữu Trần Thị Mộng V nên đề nghị không xét

+ 01 xe mô tô 79N1-138.68 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam r chưa xác định được chủ sở hữu, tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Thị Ngọc H phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Thị Ngọc H nói lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại; những người làm chứng. Tuy nhiên, không ảnh hưởng đến việc xét xử các bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xét xử vắng mặt bị hại; người làm chứng.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quy trình của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

- Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H và Đỗ Thị Ngọc H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai, bản cung của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 25/01/2021, H có hành vi trộm cắp xe mô tô 79H1-950.49 của chị Trần Thị Mộng V đang dựng trước phòng trọ số 7 tại tổ dân phố Mỹ C, phường Cam Ngh, thành phố Cam R. H biết H trộm cắp xe nhưng vẫn giúp H, Hạnh điều khiển xe mô tô 79N1-138.68 dùng chân đẩy xe H về số 30 Vương Dương, phường Vĩnh Xuân, Nha Tranh cất dấu xe.

Tại cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và Đỗ Thị Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương, sau khi phạm tội các bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho quá trình điều tra vụ án, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

- Xét nhân thân của bị cáo Nguyễn Văn H: Bị cáo đang có 03 tiền án về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 25/01/2021 bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô 79H1-950.49 của chị Trần Thị Mộng V thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp trộm cắp tài sản quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 và thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm cần xử phạt với mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Sau khi phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu giữ trả lại cho chủ sở hữu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo khi áp dụng hình phạt.

- Xét nhân thân của bị cáo Đỗ Thị Hồng H; Nhân thân: Ngày 22/4/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Tr, tỉnh Khánh H xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2015. Tuy nhiên, ngày 25/01/2021 bị cáo là người biết rõ Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản là xe mô tô 79H1-950.49 của chị Trần Thị Mộng V vẫn đồng ý giúp Nguyễn Văn H đưa tài sản trộm cắp được về Nha Trang cất dấu giúp thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, cần xử phạt với mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Sau khi phạm tội, bị cáo Đỗ Thị Hồng H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu giữ trả lại cho chủ sở hữu, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người đang mang thai. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo khi áp dụng hình phạt.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

+ Xe mô tô 79H1-950.49 đã trả cho chủ sở hữu Trần Thị Mộng V theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 08/02/2021 nên không xét

+ 01 xe mô tô 79N1-138.68 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam ranh chưa xác định được chủ sở hữu, tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H và Đỗ Thị Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

- Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Áp dụng điểm đ Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn H;

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm n, s khoản 1 Điều 51; Áp dụng điểm đ Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 đối với bị cáo Đỗ Thị Ngọc H;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự,

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (Bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 24 tháng 11 năm 2022.

+ Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Ngọc H 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Phần dân sự: Bị hại Trần Thị Mộng V đã nhận tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.

3. Về vật chứng:

+ Xe mô tô 79H1-950.49 đã trả cho chủ sở hữu Trần Thị Mộng V theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 08/02/2021 nên không xét.

+ 01 xe mô tô 79N1-138.68 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam ranh chưa xác định được chủ sở hữu, tiếp tục điều tra xử lý sau.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Thị Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 (hai trăm ngàn đồng).

- Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ