vanban.org

Bản án 41/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1-Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b,c khoản 2 điều 251, điểm b,d khoản 2 điều 256, điểm s khoản 1 điều 51 , điều 55 và điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 08( tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” và 07( bảy) năm tù về tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LE - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý (điều 195 Bộ luật hình sự năm 1…"
  • Tòa quyết gì? 1-Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật hình sự và tuyên phạt; Điều 256 Bộ luật hình sự và tuyên phạt; Điều 38 Bộ luật hình sự và tuyên phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HSST.
Ngày: 27/6/2023.

NHÂN DANH

V NAM

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Độc

lập -

Tự do

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Hạnh

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng V Chƣơng.

phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Cƣờng.

2. Ông Huỳnh Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trƣờng An- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nhớ - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27/6/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST- HS ngày 12/5/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST- HS, ngày 12/6/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm: 1992 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp x, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký tạm trú: ấp 4, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang ; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc : kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch : V Nam; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1971 và bà Lê Thị H( chết); vợ: bị cáo chung sống như vợ chồng với Trần Thị Tuyết Châu, sinh năm 1997( hiện không còn chung sống) và có một con sinh năm 2017.

Tiền sự, tiền án: không.

Nhân thân: Vào ngày 30/12/2011 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 18 tháng về hành vi say rượu đánh người gây mất trật tự công cộng, bị cáo chấp hành xong vào ngày 25/9/2013.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/8/2022, chuyển tạm giam từ ngày 09/9/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cái Bè. (Bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Anh Quách Trung L, sinh năm: 1980. Nơi cư trú: ấp Khu Phố, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( xin vắng mặt).

2- Anh Lê Bảo L, sinh năm: 1990. Nơi cư trú: ấp 3, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( vắng mặt).

3- Anh Lê Hữu T, sinh năm: 1991. Nơi cư trú: ấp 4, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( vắng mặt).

4- Anh Lê Hoàng V, sinh năm: 1990. Nơi cư trú: ấp 2, xã AnThái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( vắng mặt).

Người chứng kiến:

1- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1968. ( vắng mặt).

2- Ông Phạm Tấn Q, sinh năm: 1953. (vắng mặt).

Cùng trú tại: ấp 4, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn L là đối tượng sử dụng ma túy, để có tiền sử dụng ma túy, bị cáo L nhiều lần đến thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long mua ma túy của một người không rõ họ tên và địa chỉ đem về phòng trọ bị cáo thuê của anh Quách TrungL, sinh năm 1980 ở ấp 4, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang chia nhỏ ra để sử dụng và bán lại cho những đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Bị cáo bán ma túy bằng hình thức là đổ ma tuý sẵn vào dụng cụ sử dụng, khi có người đến hỏi mua ma túy thì bị cáo đưa dụng cụ sử dụng ma tuý cho người mua và kêu sử dụng ma tuý tại phòng ngủ của bị cáo để tránh bị Công an phát hiện, mỗi lần sử dụng ma tuý xong người mua trả tiền cho bị cáo từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Từ đầu tháng 7/2022 đến ngày 31/8/2022, bị cáo đã bán ma túy và sử dụng phòng ngủ của bị cáo làm nơi để các đối tượng sử dụng ma túy cụ thể như sau:

- Bị cáo bán ma túy cho Lê Bảo L sinh năm 1990, ngụ ấp 3, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang 03 lần, mỗi lần từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Đồng thời bị cáo đã 03 lần để L sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của bị cáo.

- Bị cáo bán ma túy cho Lê Hữu T sinh năm 1991, ngụ ấp 4, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang 03 lần, mỗi lần từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Đồng thời bị cáo đã 03 lần để T sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của bị cáo.

- Bị cáo bán ma túy cho Lê Hoàng V sinh năm 1990, ngụ ấp 2, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang 02 lần, mỗi lần 100.000 đồng. Cả 02 lần bị cáo đều kêu V sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của bị cáo.

Ngoài bán ma tuý cho Lê Bảo L, Lê Hữu T và Lê Hoàng V, bị cáo Nguyễn Văn L còn bán ma tuý cho 02 đối tượng không rõ họ tên và địa chỉ cũng với hình thức nêu trên.

Trong thời gian mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo Nguyễn Văn L đã thu lợi bất chính với tổng số tiền là 1.500.000 đồng.(Bút lục số 96, 97; 100, 101; 102, 103).

Khoảng 22 giờ ngày 30/8/2022, bị cáo Nguyễn Văn L tiếp tục đến thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long mua 01 gói ma túy của một người không rõ họ tên và địa chỉ giá 1.000.000 đồng, sau đó đem về phòng trọ của bị cáo ở ấp 4, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo Nguyễn Văn L chia gói ma túy vừa mua ra đựng trong 05 đoạn ống nhựa, 08 gói ny lon rồi bị cáo lấy số ma túy vừa chia cất giấu vào trong hộp giấy để trong tủ gỗ nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện; sau đó bị cáo đổ phần ma túy còn lại vào dụng cụ sử dụng để bán cho những người nghiện. Sáng ngày 31/8/2022, Lê Hoàng V, Lê Bảo L và Lê Hữu T đến phòng trọ của bị cáo mua ma túy và sử dụng ma túy tại phòng trọ. Đến 08 giờ cùng ngày, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại phòng trọ của bị cáo Nguyễn Văn L có đối tượng sử dụng ma túy, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Cái Bè phối hợp Công an xã Y kiểm tra phòng trọ của bị cáo L. Qua kiểm tra phát hiện dưới nền gạch có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa, đoạn ống nhựa và đoạn ống th tinh uốn cong dạng phểu bên trong chứa ma túy; trong tủ gỗ có 01 hộp giấy bên trong có 01 gói nilon dán kín chứa 06 gói nilon hàn kín chứa ma túy, 05 đoạn ống nhựa hàn kín chứa ma túy, 02 gói nilon dán kín chứa ma túy. Bị cáo Nguyễn Văn L trình bày ma túy Công an thu giữ là của bị cáo để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. (Bút lục số 01-04).

Theo kết luận giám định số 92/KL-KTHS ngày 01/9/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

- Gói 1 (ký hiệu 1): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1557 gam, loại Methamphetamine.

- Gói 2 (ký hiệu 2): Các mẫu tinh thể trong suốt gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 3,3572 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu ký hiệu M2.1 có khối lượng 1,5451 gam, mẫu ký hiệu M2.2 có khối lượng 0,9787 gam, mẫu ký hiệu M2.3 có khối lượng 0,8334 gam).

Sau giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè: Các mẫu ký hiệu: M1; M2.1; M2.2 và M2.3 còn lại sau giám định có khối lượng lần lượt là: 0,1393 gam; 1,3551 gam; 0,9097 gam và 0,6764 gam; được niêm phong trong hai bì thư ký hiệu lần lượt vụ số: 92/1 và 92/2 ghi ngày 01/9/2022. (Bút lục số 46-49).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè, bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, những người có liên quan, vật chứng thu giữ và các T liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập.(Bút lục số 110-118; 122-127; 132-134; 140-142; 148-150).

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: chai nhựa, đoạn ống nhựa và đoạn ống th tinh uốn cong dạng phểu bên trong chứa tinh thể nghi là ma túy, đối với đoạn ống th tinh được dùng băng keo quấn lại ở phần phểu cho vào bao thư niêm phong ký hiệu số 01;

- 03 quẹt gas đã qua sử dụng;

- 01 chai gas đã qua sử dụng;

- 01 kéo kim loại đã qua sử dụng;

- 01 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, 01 đầu cắt nhọn.

- 01 hộp giấy bên trong có 01 gói nilon dán kín chứa: 06 gói nilon hàn kín chứa tinh thể trong suốt ghi vấn là ma túy, 05 đoạn ống nhựa hàn kín chứa tinh thể nghi vấn là ma túy, 02 gói nilon dán kín chứa tinh thể trong suốt nghi vấn là ma túy, được cho vào bao thư niêm phong ký hiệu số 02;

- 01 hộp giấy;

- 01 hộp giấy màu đen bên trong chứa 02 đoạn ống th tinh uốn cong dạng phểu.

- Thu giữ của Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động hiệu OPPO;

- Thu giữ của Lê Hữu T 01 điện thoại di động hiệu Iphone;

- Thu giữ của Lê Hoàng V 01 điện thoại di động hiệu Vsmart;

- Thu giữ của Lê Bảo L 01 điện thoại di động hiệu Samsung;

Kết quả kiểm tra các điện thoại di động, Cơ quan điều tra không phát hiện thông tin gì liên quan đến ma tuý.(Bút lục số 05-12).

Đối với 03 cái nỏ (trong đó có 01 cái chứa ma tuý gắn vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý) thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo Nguyễn Văn Lể mua của một người không rõ họ tên và địa chỉ đem về cất giấu để sử dụng, xét thấy chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn L về hành vi này.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng nêu trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Qua điều tra xác định bị cáo Nguyễn Văn L cất giữ số ma tuý nêu trên là để sử dụng và bán lại cho người khác nhưng không xác định được khối lượng ma tuý bán là bao nhiêu, sử dụng là bao nhiêu, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè không xem xét xử lý bị cáo Nguyễn Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Khi Công an phát hiện bắt quả tang, ngoài bị cáo Nguyễn Văn L và những người mua ma tuý gồm: Lê Hoàng V, Lê Bảo L và Lê Hữu T, còn có Phạm Thị Huế Anh sinh năm 1999, ngụ ấp 3, xã Y, huyện Cái Bè và Trần Văn Trọng sinh năm 1995, ngụ ấp x, xã Y, huyện Cái Bè, cũng có mặt tại phòng của bị cáo L. Kết quả điều tra xác minh Phạm Thị Huế Anh và Trần Văn Trọng đến phòng trọ của bị cáo L để chơi, không mua bán, không sử dụng ma túy trong vụ án này. (Bút lục số 152-160).

Đối với Lê Hoàng V, Lê Bảo L và Lê Hữu T, Công an huyện Cái Bè đã ra quyết định phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Quách TrungL sinh năm 1980, ngụ ấp 4, xã Y, huyện Cái Bè là chủ nhà trọ cho thuê tháng, anhL cho bị cáo Nguyễn Văn L thuê phòng để ở, không biết bị cáo sử dụng phòng trọ làm nơi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự.

Tại bản cáo trạng số 33/CT- VKSCB ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,d khoản 2 điều 256 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,d khoản 2 điều 256 Bộ luật hình sự.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a)……;

b) Phạm tội hai lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

Điều 256 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a)…….;

b) Phạm tội hai lần trở lên;

c)…….;

d) Đối với 02 người trở lên;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không .

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b,c khoản 2 điều 251, điểm b,d khoản 2 điều 256 ,điểm s khoản 1 điều 51 , điều 55 và điều 38 Bộ luật hình sự và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 09 năm tù đến 10 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 điều 55, tổng hợp hình phạt chung cho hai tội.

Vật chứng: áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điều 46, 47 Bộ luật hình sự.

- Đối với:

+ 02 bao niêm phong có ký hiệu vụ số: 92/1 và 92/2, ghi ngày 01/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang. Chứa các mẫu ký hiệu: M1; M2.1; M2.2 và M2.3 còn lại sau giám định có khối lượng lần lượt là: 0,1393 gam; 1,3551 gam; 0,9097 gam và 0,6764 gam ma túy loại Methamphetamine;

+ 01 đoạn ống th tinh dạng phễu;

+ 01 miếng băng keo màu vàng;

+ 09 bao vỏ gói ny lon màu trắng;

+ 05 vỏ ống nhựa màu vàng đều đã bị cắt một đầu;

+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: chai nhựa, đoạn ống nhựa;

+ 03 quẹt gas đã qua sử dụng;

+ 01 chai gas đã qua sử dụng;

+ 01 kéo kim loại đã qua sử dụng;

+ 01 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, 01 đầu cắt nhọn;

+ 01 hộp giấy;

+ 01 hộp giấy màu đen bên trong chứa 02 đoạn ống th tinh uốn cong dạng phễu. Là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu OPPO của bị cáo Nguyễn Văn L xử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với:

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone của Lê Hữu T;

+ 01 điện thoại di động hiệu Vsmart của Lê Hoàng V;

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung của Lê Bảo L, là T sản của các anh không dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu trả lại cho anh T, anh L và anh V.

- Đối với số tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.500.000 đồng.

Đối với hành vi bị cáo L cất giữ số ma tuý nêu trên là để sử dụng và bán lại cho người khác nhưng không xác định được khối lượng ma tuý bán là bao nhiêu, sử dụng là bao nhiêu, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè không xem xét xử lý bị cáo Nguyễn Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không đặt ra xem xét.

Đối với 03 cái nỏ (trong đó có 01 cái chứa ma tuý gắn vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý) thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo Nguyễn Văn L mua của một người không rõ họ tên và địa chỉ đem về cất giấu để sử dụng, xét thấy chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn L về hành vi này nên không đặt ra xem xét.

Đối với Quách TrungL là chủ nhà trọ cho thuê tháng, anhL cho bị cáo Nguyễn Văn L thuê phòng để ở, không biết bị cáo sử dụng phòng trọ làm nơi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự nên không đặt ra xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và T liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Cái Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền , trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình đều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiệp đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

Tại phiên toà hôm nay lời khai của bị cáo Nguyễn Văn L phù hợp với các chứng cứ, T liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/8/2022 và bản cáo trạng số 33/CT- VKS CB ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo tại phiên tòa.

Từ tháng 7/2022 đến ngày 31/8/2022, tại phòng trọ của bị cáo Nguyễn Văn L, bị cáo L đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho Lê Hoàng V, Lê Bảo L và Lê Hữu T, đồng thời nhiều lần cho L, T, V sử dụng trái phép chất ma túy ngay trong phòng ngủ của bị cáo, thu lợi 1.500.000 đồng. Khoảng 08 giờ ngày 31/8/2022, sau khi bán trái phép chất ma tuý, bị cáo Nguyễn Văn L kêu Lê Hoàng V, Lê Bảo L và Lê Hữu T sử dụng ma tuý vừa mua ngay tại phòng ngủ của bị cáo L, bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, đồng thời bị cáo L bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời. Vật chứng thu giữ là ma túy, có tổng khối lượng 3,5129 gam, loại Methamphetamine.

Nên bản cáo trạng trạng số 33/CT- VKS CB ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,d khoản 2 điều 256 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, ma tuý là chất rất nguy hại đã được Nhà nước cấm buôn bán dưới mọi hình thức chỉ được sử dụng trong nghiên cứu và trong y học vì tác hại của nó rất lớn khi sử dụng sẽ làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội mà không thể lường trước được như cướp giật, trộm cắp T sản và giết người, nên cần xử lý bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự .

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có.

- Vật chứng :

- Đối với:

+ 02 bao niêm phong có ký hiệu vụ số: 92/1 và 92/2, ghi ngày 01/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang. Chứa các mẫu ký hiệu: M1; M2.1; M2.2 và M2.3 còn lại sau giám định có khối lượng lần lượt là: 0,1393 gam; 1,3551 gam; 0,9097 gam và 0,6764 gam ma túy loại Methamphetamine;

+ 01 đoạn ống th tinh dạng phễu;

+ 01 miếng băng keo màu vàng;

+ 09 bao vỏ gói ny lon màu trắng;

+ 05 vỏ ống nhựa màu vàng đều đã bị cắt một đầu;

+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: chai nhựa, đoạn ống nhựa;

+ 03 quẹt gas đã qua sử dụng;

+ 01 chai gas đã qua sử dụng;

+ 01 kéo kim loại đã qua sử dụng;

+ 01 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, 01 đầu cắt nhọn;

+ 01 hộp giấy;

+ 01 hộp giấy màu đen bên trong chứa 02 đoạn ống th tinh uốn cong dạng phễu. Là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu OPPO của Nguyễn Văn L xử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với:

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone của Lê Hữu T;

+ 01 điện thoại di động hiệu Vsmart của Lê Hoàng V;

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung của Lê Bảo L, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho anh T, anh L và anh V.

- Đối với số tiền là 1.500.000 bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma túy mà có nên buộc bị cáo L phải nộp lại sung quỹ Nhà nước.

. Đối với hành vi bị cáo L cất giữ số ma tuý nêu trên là để sử dụng và bán lại cho người khác nhưng không xác định được khối lượng ma tuý bán là bao nhiêu, sử dụng là bao nhiêu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè không xem xét xử lý bị cáo Nguyễn Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Đối với 03 cái nỏ (trong đó có 01 cái chứa ma tuý gắn vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý) thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo Nguyễn Văn L mua của một người không rõ họ tên và địa chỉ đem về cất giấu để sử dụng, xét thấy chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn L về hành vi này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Đối với Quách TrungL là chủ nhà trọ cho thuê tháng, anhL cho bị cáo Nguyễn Văn L thuê phòng để ở, không biết bị cáo sử dụng phòng trọ làm nơi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Xét thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về tội danh, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên về mức hình phạt là quá nghiêm khắc nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

1-Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: điểm b,c khoản 2 điều 251, điểm b,d khoản 2 điều 256, điểm s khoản 1 điều 51 , điều 55 và điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 08( tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” và 07( bảy) năm tù về tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 15 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 31/8/2022.

2- Vật chứng: Áp dụng điều 46, điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 02 bao niêm phong có ký hiệu vụ số: 92/1 và 92/2, ghi ngày 01/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang. Chứa các mẫu ký hiệu: M1; M2.1; M2.2 và M2.3 còn lại sau giám định có khối lượng lần lượt là: 0,1393 gam; 1,3551 gam; 0,9097 gam và 0,6764 gam ma túy loại Methamphetamine;

+ 01 đoạn ống th tinh dạng phễu;

+ 01 miếng băng keo màu vàng;

+ 09 bao vỏ gói ny lon màu trắng;

+ 05 vỏ ống nhựa màu vàng đều đã bị cắt một đầu;

+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: chai nhựa, đoạn ống nhựa;

+ 03 quẹt gas đã qua sử dụng;

+ 01 chai gas đã qua sử dụng;

+ 01 kéo kim loại đã qua sử dụng;

+ 01 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, 01 đầu cắt nhọn;

+ 01 hộp giấy;

+ 01 hộp giấy màu đen bên trong chứa 02 đoạn ống th tinh uốn cong dạng phễu .

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO của bị cáo Nguyễn Văn L.

- Trảo trả cho:

+ Anh Lê Hữu T 01 điện thoại di động hiệu Iphone;

+ Anh Lê Hoàng V 01 điện thoại di động hiệu Vsmart;

+ Anh Lê Bảo L 01 điện thoại di động hiệu Samsung.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được lưu giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè. Theo quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKSCB ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, biên bản về việc giao nhận vật chứng, T sản ngày 12/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè. Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

3- Buộc bị cáo Nguyễn Văn L nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.500.000 đồng.

4- Án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Bị cáo Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Lê Hữu T, anh Lê Hoàng V, anh Lê Bảo L và anh Quách TrungL được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ