vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trần Công Bình P phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công Bình P phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày 14 – 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Song Trà

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2023/TLST- HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Công Bình P (tên gọi khác: P ma), sinh ngày 28 tháng 02 năm 2005 tại tỉnh Quảng Ngãi; trú tại: Thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; con bà Trần Thị H, sinh năm 1980, cha không xác định; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23 tháng 9 năm 2022 đến ngày 06 tháng 01 năm 2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị H, sinh năm 1980; trú tại: Thôn P, xã T, thành phố Q. (Bà H là mẹ ruột của bị cáo Trần Công Bình P); có mặt.

- Người bào chữa: Bà Tiêu Thị Thu T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

- Bị hại: Ông Phạm Văn X, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T, sinh năm 1998, trú tại thôn G, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Dương Trung T, sinh năm 2004. Vắng mặt.

2. Anh Phan Minh T, sinh năm 2004. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 12 giờ ngày 03/6/2022 (tức ngày 05 tháng 5 năm Âm lịch), nhóm Trần Văn T gồm: Trần Văn T (sinh năm 1998), Phan Văn T (sinh năm 1998), Trần Trương Văn T (sinh năm 2005), Trương Thế H (sinh năm 1999), Đỗ Minh Đ (sinh năm 1999), Đỗ Nhất H (sinh năm 2000), Võ Đình N (sinh năm 2001), Đỗ Văn N (sinh năm 1999), Phan Minh T (sinh năm 1996), Vương Thành (sinh năm 2000), Trần Công Bình P, Dương Trung T (sinh năm 2004) cùng với một số người (không rõ lai lịch) tổ chức ăn uống tại bãi biển M thuộc thôn, xã T, TP Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Cùng thời điểm này, nhóm Trần Văn C gồm: Trần Văn C (sinh năm 1978), Phạm Văn X (sinh năm 1988), Phạm Minh C (sinh năm 1987) và một số người nhậu tại bãi biển M; cách nhóm Trần Văn T khoảng 30m. Trong lúc nhậu, Trần Văn C cãi nhau và xô xát với người tên T1 (không rõ lai lịch). Thấy vậy, Trần Văn T dùng điện thoại di động quay video cảnh xô xát.

Phạm Văn Đ (sinh năm 1998), Phạm M (1998), Phạm S (sinh năm 1994) cùng cư trú: Thôn C, xã T, TP Q, tỉnh Quảng Ngãi đang nhậu tại nhà nghe tin C và T1 cãi nhau nên Đ, M và S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1-734.26 đến bãi biển M chỗ nhóm Trần Văn C. Lúc này, Phạm Minh C thấy Trần Văn T quay video nên chỉ tay về hướng Trần Văn T nói “quay để làm gì, đừng quay nữa”, Trần Văn T nói lại “quay chớ làm gì đâu” nên Phạm Minh C, Phạm Mai, Phạm Văn Đô và Phạm Sáng xông vào xô xát, đánh nhau với Trần Văn T dẫn đến Trần Văn T ngã vào khu vực đang đốt lửa. Thấy Trần Văn T bị đánh nên nhóm của Trần Văn T đến can ngăn, rồi đánh nhau với nhóm của Phạm Minh C. Trần Công Bình P đang ngồi nhậu thấy Trần Trương Văn T đánh và vật lộn với Phạm Văn X dưới bãi cát nên P lấy 01 (một) con dao (loại dao dùng cắt trái cây) chạy đến chỗ Trần Trương Văn T; P dùng chân đạp vào mông anh X, anh X xoay người ra phía sau, quơ tay phải để đánh lại P thì bị P dùng dao đâm 01 cái theo hướng từ trên xuống trúng vào tay phải của anh X. Phạm Văn X bị thương ôm tay bỏ chạy. Lúc này, Công an xã T tuần tra phát hiện sự việc. Nhóm Trần Văn T lấy xe ra về thì bị Phạm Minh C cùng 05 người khác (không xác định nhân thân, lai lịch) ngăn cản không cho về, nhóm Trần Văn T lấy đá và cây ném về phía nhóm Phạm Minh C rồi bỏ đi.

Công an xã T lập biên bản sự việc, thu giữ: 01 (một) khúc gỗ chiều dài 65cm; 01 (một) khúc tre tròn chiều dài 175cm; 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 76S7-2037; nhiều viên đá có hình dạng, kích thước khác nhau và một số đôi dép

Tại Bản kết luận giám định số 221/TgT ngày 05/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi kết luận thương tích của Phạm Văn X: Vết thương gây đứt động mạch quay 06%. Vết thương gây đứt động mạch trụ 3,76%. 01 (một) sẹo cánh cẳng tay phải kích thước (24x0,2)cm 1,80%. 01 (một) sẹo cẳng tay phải kích thước (7x0,2)cm 1,76%. Tổng cộng 13,32%. Làm tròn số 13%. Các tổn thương trên phù hợp với vật sắc nhọn gây thương tích.

Bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 31 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Trần Công Bình P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Công Bình P từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, bị cáo sống với ông bà ngoại từ lúc 03 tuổi đến nay thiếu sự quan tâm, giáo dục của cha mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Công Bình P mức án 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Người đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí theo ý kiến của người bào chữa.

Bị cáo Trần Công Bình P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đối với bị hại Phạm Văn X và thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt (Không có lý do). Xét thấy việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Trần Công Bình P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 15 giờ ngày 03/6/2022, tại bãi biển Mỹ Khê đã xảy ra xô xát, đánh nhau giữa nhóm Trần Văn T và nhóm Trần Văn C. Trần Công Bình P đang ngồi nhậu thấy Trần Trương Văn T (bạn cùng nhóm) bị Phạm Văn X đè, đánh dưới bãi cát nên P lấy 01 (một) con dao (loại dao dùng cắt trái cây) chạy đến chỗ Trần Trương Văn T; P dùng chân đạp vào mông anh X, anh X xoay người ra phía sau, quơ tay phải để đánh lại thì bị P dùng dao đâm 01 nhát theo hướng từ trên xuống trúng vào tay phải của anh X làm đứt động mạch quay và đứt động mạch trụ tay phải gây tổn thương cơ thể cho Phạm Văn X là 13%.

Hành vi dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể 13% nên đã cấu thành tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Trần Công Bình P là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội Trần Công Bình P đã thành khẩn khai báo, bồi thường chi phí điều trị cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng; anh Phạm Văn X có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất hành vi phạm tội, trên cơ sở xem xét, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, nhân cách và tâm sinh lý, thiếu sự quan tâm, giáo dục của gia đình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân không tốt, đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng vào ngày 29/6/2020 tại ngã tư đường Quang Trung- Nguyễn Tự Tân – Lê Ngung và ngã tư Quang Trung - Phan Đình Phùng – Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi. Tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo chưa đủ 16 tuổi nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã chuyển hồ sơ đến Công an xã nơi cư trú để áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường theo quy định của pháp luật. Do vậy cần phải xử phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung đối với người khác. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54, Điều 65 và Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về phần dân sự: Bị hại Phạm Văn X đã nhận từ bị cáo P và nhóm Trần Văn T số tiền 85.000.000 đồng (Tám mươi lăm triệu đồng), không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về vật chứng: 01 (một) viên đá không xác định hình dạng, kích thước (32,5x27,7x15)cm; 01 (một) viên gạch đất nung 6 lỗ, kích thước (18,5x8x10,7)cm; 01 (một) đôi dép da màu đen, loại 02 quai, mỗi chiếc kích thước (24x10)cm; 01 (một) đôi dép 03 quai, loại dép lào, màu đen – trắng, mỗi chiếc kích thước (25x11)cm; 01 (một) đôi dép da màu đen, loại dép 03 quai, mỗi chiếc kích thước (26x10)cm; 01 (một) chiếc dép da màu đen – cam, loại dép 03 quai kích thước (27x10,5)cm; 01 (một) đôi dép da màu đen quai ngang, trên quai dép có chữ “V”, mỗi chiếc kích thước (26x10)cm; 01 (một) khúc gỗ chiều dài 65cm; 01 (một) khúc tre tròn chiều dài 175cm. Đây là đồ vật tạm giữ khi tổ chức khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra việc đánh nhau giữa nhóm Trần Văn T và nhóm anh Phạm Minh C nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Xe mô tô hiệu WAVE, biển kiểm soát 76S7- 2037 là của bà Lê Thị C (mẹ ruột Phạm Văn X). Bà C mua xe vào năm 2020 nhưng không có giấy tờ mua bán. Qua tra cứu xác định xe mô tô 76S7-2037 do ông Nguyễn H (sinh năm 1966; cư trú: Thôn T, xã T, TP Q, tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên sở hữu. Hiện tại ông Nguyễn H không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Trần Công Bình P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trần Công Bình P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Công Bình P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án được trừ thời gian tạm giam từ ngày 23 tháng 9 năm 2022 đến ngày 06 tháng 01 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) viên đá không xác định hình dạng, kích thước (32,5x27,7x15)cm; 01 (một) viên gạch đất nung 6 lỗ, kích thước (18,5x8x10,7)cm; 01 (một) đôi dép da màu đen, loại 02 quai, mỗi chiếc kích thước (24x10)cm; 01 (một) đôi dép 03 quai, loại dép lào, màu đen – trắng, mỗi chiếc kích thước (25x11)cm; 01 (một) đôi dép da màu đen, loại dép 03 quai, mỗi chiếc kích thước (26x10)cm; 01 (một) chiếc dép da màu đen – cam, loại dép 03 quai kích thước (27x10,5)cm; 01 (một) đôi dép da màu đen quai ngang, trên quai dép có chữ “V”, mỗi chiếc kích thước (26x10)cm; 01 (một) khúc gỗ chiều dài 65cm; 01 (một) khúc tre tròn chiều dài 175cm.

Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 02 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Công Bình P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ