vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn M (M Tàn) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn M (M Tàn) 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2023. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn M (M Tàn) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày: 20-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hải

2. Ông Nguyễn Hồng Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần M Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm (Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) và điểm cầu thành phần (Trại Tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp), Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2023/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn M (M Tàn), sinh năm: 2002; Nơi sinh: Đồng Tháp. Nơi thường trú: Tổ 56, Khóm D, Phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú hiện nay: Không có nơi cư trú rõ ràng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Phan Văn S, sinh năm 1979 và bà Phan Thị Cẩm H, sinh năm 1983; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/6/2022, bị Ủy ban nhân dân Phường 2, thành phố Cao Lãnh áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 465a/QĐ-UBND. Tạm giữ: ngày 22/02/2023, Tạm giam: ngày 03/3/2023. Hiện đang tạm giam tại trại Tạm giam công an tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

Bị hại:

1/ Nguyễn Công T, sinh năm 1980 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).

Nơi cư trú: Số 98, đường T, Tổ 58, khóm D, phường B, thành phố L, tỉnh

Đồng Tháp.

2/ Lữ Hoàng G, sinh năm 1972 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Số 144, đường T, Tổ 58, khóm D, phường B, thành phố L, tỉnh

Đồng Tháp.

Người hỗ trợ phiên tòa:

1. Ông Nguyễn Bé Thương – cấp bậc Đại úy;

2. Ông Lê M Tây – cấp bậc Hạ sỹ;

3. Ông Trương Văn Hiếu – cấp bậc Binh nhất;

4. Ông Trần M Nhật - cấp bậc Binh nhất;

5. Ông Phạm Quốc Cường - cấp bậc Binh nhất;

Là cán bộ, chiến sỹ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

Những người hỗ trợ phiên tòa có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn M là người không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài, M đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần, cụ thể như sau:

Vào khoảng 03 giờ, ngày 26/01/2023, M đi bộ ngang nhà ông Lữ Hoàng G tại Số 144, Tổ 68, Khóm D, Phường B, thành phố L, M phát hiện nhà đã khóa cửa ngoài nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản. M đi qua bên hông nhà thấy có lắp camera an ninh nên lấy khăn giẻ lau che lại, dùng kiềm cộng lực đã chuẩn bị trước cắt khoen khóa cửa đi vào nhà và đi lên lầu, thấy cửa phòng không khóa nên đi vào mở hộc tủ bàn trang điểm lấy trộm 01 đôi bông tai vàng trắng và 01 đồng hồ đeo tay hiệu TISSOT màu trắng rồi tẩu thoát. Sau đó, M đến chợ Phường 2, thành phố Cao Lãnh bán 01 đôi bông tai vàng trắng được 320.000 đồng cho tiệm vàng không nhớ rõ biển hiệu. Còn đồng hồ M cất giữ sử dụng. Đến 09 giờ cùng ngày, ông G đến Công an Phường 2, thành phố Cao Lãnh trình báo vụ việc.

Trong thời gian lực lượng Công an xác minh vụ việc thì khoảng 02 giờ, ngày 22/02/2023, bằng thủ đoạn tương tự như trên, M đột nhập vào nhà ông Nguyễn Công T tại quán cà phê 98, Tổ 58, Khóm 4, Phường 2, thành phố Cao Lãnh lấy trộm tài sản trong tủ ở quầy bán nước gồm: 01 điện thoại di động loại Iphone X màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh và tiền Việt Nam 3.200.000 đồng. Sau đó, M sử dụng 2.900.000 đồng là số tiền đã lấy trộm được nạp tiền chơi game, còn lại tiêu xài hết. Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, M bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh tạm giữ và đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Về vật chứng, đồ vật đã thu giữ gồm:

- 01 điện thoại di động loại Iphone Xs Max màu vàng, bộ nhớ trong 64 GB; 01 điện thoại di động loại SamSung Galaxy A52, màu xanh, bộ nhớ trong 128 GB; 01 đồng hồ đeo tay nữ màu trắng hiệu TISSOT. Đây là những tài sản M lấy trộm.

- 01 cây kìm bấm, 01 cây kìm cộng lực màu xanh đen, 01 cây khóa vặn ốc số 19, có ghi dòng chữ CHROME VANADIUM, đã qua sử dụng. Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

- 01 mũ vành tròn có ghi dòng chữ “STRONGBOW”, bên ngoài màu đen, bên trong màu vàng và 01 áo khoác dài tay màu nâu đen có ghi dòng chữ “CHRISTIAN DIOR”, đây là trang phục cá nhân M đã mặc khi lấy trộm tài sản tại nhà ông T. Do M có yêu cầu nhận lại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trao trả lại cho M xong.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 183/KL-HĐĐGTS, ngày 18/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 đôi bông tai vàng trắng loại 02 ly, có giá: 1.800.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nữ màu trắng hiệu TISSOT, có giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị là: 3.800.000 đồng, sau khi định giá Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông G chiếc đồng hồ, còn đôi bông tai mất trộm không thu hồi được ông G yêu cầu M bồi thường.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS, ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A52, màu xanh, bộ nhớ trong 128GB, có giá: 4.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, bộ nhớ trong 64GB, có giá: 7.500.000 đồng. Tổng giá trị là 12.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trao trả cho Nguyễn Công T xong. Riêng số tiền mất trộm ông T không yêu cầu bị cáo M trả lại và không yêu cầu bồi thường thêm.

Quá trình điều tra, M khai nhận khi đột nhập vào nhà ông G, ngoài việc lấy trộm các tài sản trên ra thì M còn lấy trộm 02 đôi dép hiệu Doctor tại nhà bếp sau đó đem bán cho một người đàn ông không biết họ tên lấy tiền tiêu xài. Còn ông Lữ Hoàng G xác định nhà ông không có sử dụng dép hiệu Doctor nên không có bị mất 02 đôi dép như lời khai của M. Tuy nhiên, ông G trình bày ngoài bị mất tài sản 01 đôi bông tai vàng trắng loại 02 ly; 01 đồng hồ đeo tay nữ màu trắng hiệu TISSOT như bị cáo M thừa nhận thì ông còn bị mất 01 dây chuyền có mặt vuông vàng 18K trọng lượng khoảng 1,6 lượng. Nhưng bị cáo M không thừa nhận có lấy trộm sợi dây chuyền như ông G trình bày. Ngoài lời trình bày duy nhất của M, ông G ra và các tài sản này cũng không thu hồi được. Đồng thời, hiện nay ông G cũng chuyển đến nơi ở khác không xác định được địa chỉ mới nên không thể thu thập thêm chứng cứ để chứng minh việc ông G có bị mất 01 dây chuyền có mặt vuông vàng 18K trọng lượng khoảng 1,6 lượng, cũng như việc M lấy trộm 02 đôi dép hiệu Doctor tại nhà ông G. Do đó không đủ căn cứ quy kết M lấy trộm 02 đôi dép hiệu Doctor và 01 dây chuyền có mặt vuông vàng 18K trọng lượng khoảng 1,6 lượng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Phan Văn M thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên phù hợp với kết luận định giá tài sản; biên bản, sơ đồ, khám nghiệm hiện trường, bản ảnh dựng lại hiện trường; lời khai người bị hại; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 53/CT-VKS-TPCL ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Phan Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự .

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Căn cứ Điều 173 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn M với mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

* Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phan Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng số 53/CT-VKS-TPCL ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Vào khoảng 3 giờ ngày 26/01/2023, tại địa bàn phường 2, thành phố Cao Lãnh, bị cáo M đột nhập vào nhà ông Lữ Hoàng G lấy trộm 01 đôi bông tai vàng trắng loại 02 ly; 01 đồng hồ đeo tay nữ màu trắng hiệu TISSOT. Đến ngày 22/02/2023, bị cáo M tiếp tục đột nhập vào nhà ông Nguyễn Công T lấy trộm 01 điện thoại di động loại Iphone X màu vàng và 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh và số tiền 3.200.000 đồng.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 183/KL-HĐĐGTS, ngày 18/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 đôi bông tai vàng trắng loại 02 ly, có giá: 1.800.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nữ màu trắng hiệu TISSOT, có giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị là: 3.800.000 đồng.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS, ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A52, màu xanh, bộ nhớ trong 128GB, có giá: 4.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, bộ nhớ trong 64GB, có giá: 7.500.000 đồng. Tổng giá trị là 12.000.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại G và T là 19.000.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với kết luận định giá tài sản; biên bản, sơ đồ, khám nghiệm hiện trường, bản ảnh dựng lại hiện trường; lời khai người bị hại; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Phan Văn M (M Tàn) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự .

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a)…

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phan Văn M: Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo còn khai rằng biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lòng tham nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hai lần thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, nhưng về các tài sản khác mà bị hại cho rằng bị cáo đã chiếm đoạt, bị cáo không thừa nhận và có ý thức khai báo quanh co, cho thấy bị cáo chưa thật sự tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cũng cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nhưng ở mức độ nhất định.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với:

+ 01 (một) cây kìm bấm, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) cây kìm cộng lực màu xanh đen, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) cây khóa vặn ốc số 19, có ghi dòng chữ CHROME VANADIUM, đã qua sử dụng.

Đây là vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 đồng hồ đeo tay nữ màu trắng hiệu TISSOT, là tài sản của anh G, Cơ quan điều tra đã trả lại đồng hồ cho ông Lữ Hoàng G, là phù hợp.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A52, màu xanh, bộ nhớ trong 128GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, bộ nhớ trong 64GB là tài sản của ông T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trả lại cho Nguyễn Công T, là phù hợp.

- Đối với 01 mũ vành tròn có ghi dòng chữ “STRONGBOW”, bên ngoài màu đen, bên trong màu vàng, đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay màu nâu đen có ghi dòng chữ “CHRISTIAN DIOR”, đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo. Cơ quan Cảnh Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trả cho lại cho Phan Văn M, là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự,

Buộc bị cáo Phan Văn M bồi thường số tiền là 1.800.000 đồng (giá trị 01 đôi bông tai vàng trắng loại 02 ly) cho bị hại Lữ Hoàng G.

Đối với số tiền 3.200.000 đồng bị cáo đã lấy của bị hại T, bị hại T không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này, nên không đặt ra xem xét.

Các vấn đề khác:

Đồi với hành vi bị cáo lấy 02 đôi dép hiệu Doctor, không xác định được bị hại, không xác định được giá trị và 01 dây chuyền có mặt vuông vàng 18K trọng lượng khoảng 1,6 lượng, không đủ căn cứ định tội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Văn M (M Tàn) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Phan Văn M (M Tàn) 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Phan Văn M bồi thường số tiền là 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) cho bị hại Lữ Hoàng G.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội gồm:

+ 01 (một) cây kìm bấm, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) cây kìm cộng lực màu xanh đen, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) cây khóa vặn ốc số 19, có ghi dòng chữ CHROME VANADIUM, đã qua sử dụng.

(Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2023).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Văn M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ