vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các Bị cáo Nguyễn Ngọc P, Trần Văn Duy H phạm tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt:

1. Bị cáo Nguyễn Ngọc P 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/3/2023. 2. Bị cáo Trần Văn Duy H 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Ngọc P cùng đồng phạm phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các Bị cáo Nguyễn Ngọc P, Trần Văn Duy H phạm tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày 21 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Văn Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Tu

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Cao Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023 trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2003, tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Thị T; chưa có vợ; tiền án: tại bản án hình sự sơ thẩm số: 407/2020/HS-ST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Ngọc P 30 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (được đối trừ vào số tiền 200.000 đồng đã tạm giữ), bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2022; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 31/3/2023 đến ngày 05/4/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

2. Trần Văn Duy H, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2002, tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị T; chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 15/QĐ-XPHC ngày 30/3/2023 của Công an xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn Duy H bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giữ từ ngày 31/3/2023 đến ngày 05/4/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Anh Taku K…., sinh năm 1986; nơi cư trú: 03-2-40… H, Chua K…, Tokyo, Nhật Bản (vắng mặt).

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Chị Dương Thị D, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình - Văn bản ủy quyền ngày 03/4/2023 (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chị Trần Thị Huyền T1, sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

+ Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1987; nơi cư trú: phố M, thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

+ Ông Bùi Phương Đ, sinh năm 1969; nơi cư trú: số nhà 45…, đường N, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 31/3/2023, Nguyễn Ngọc P đi bộ đến nhà Trần Văn Duy H chơi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày P rủ H đi cướp giật tài sản để lấy tiền ăn tiêu, H đồng ý và đi vào trong nhà dắt chiếc xe mô tô HONDA LEAD, màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2-543….. của chị gái là chị Trần Thị Huyền T1 ra ngoài đưa cho P điều khiển. P chở H đi được một đoạn thì dừng lại lấy khẩu trang y tế che biển kiểm soát. Sau đó P chở H đi theo đường đê H qua khu du lịch T đến chỗ hai con voi thì dừng lại đưa xe cho H điều khiển. H chở P đi ngược cổng bến thuyền khu du lịch T thì dừng lại quan sát, thấy anh Taku K…. là khách du lịch Nhật Bản đang đạp chiếc xe đạp nữ màu xanh (thuê của ông Bùi Phương Đ) đi theo hướng từ bến thuyền T thuộc thôn T về phía xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình trong giỏ xe phía trước xe đạp của anh Taku K…. có 01 túi xách màu đen nhãn hiệu CABIN ZERO, H điều khiển xe mô tô áp sát vào phía bên tay trái xe đạp của anh Taku K…. để P ngồi phía sau dùng tay phải giật chiếc túi xách của anh Taku K….. Thấy P giật được túi H tăng ga bỏ chạy đến Cầu A sông C thuộc thôn A, xã T, huyện H (gần Công ty cổ phần gạch ngói Sông C) thì dừng lại. P mở túi xách kiểm tra bên trong có: 01 sổ hộ chiếu, 02 thẻ ngân hàng mang tên Taku K…., 01 chìa khóa (có móc kèm theo), 01 thiết bị định vị Apple Airtag, 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, 01 máy tính bảng Ipad Mini gen 5 màu vàng, 01 bộ (dây và củ sạc) Apple, 01 đôi tai nghe không dây, 01 túi zip bên trong có 01 ví da màu đen và tiền giấy, tiền xu gồm: 05 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 250 Euro (tiền liên minh Châu Âu); 05 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 06 USD (tiền đô la Mỹ); 06 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 15.000 JPY (tiền Yên Nhật); 14 đồng (tiền xu) ngoại tệ tổng giá trị 1.830 JPY (tiền Yên Nhật); 07 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 180£ (tiền bảng Anh); 15 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 2.930 Baht (tiền Bạt Thái Lan); 13 đồng (tiền xu) tiền ngoại tệ tổng giá trị 85 Baht (tiền Bạt Thái Lan); 07 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 1.550 INR (tiền Ấn Độ); 07 đồng (tiền xu) tiền ngoại tệ tổng giá trị 20 INR (tiền Ấn Độ); 09 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 85.000 LAK (tiền Lào); 11 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 310 NPR (tiền Nepan); 09 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 750 BDT (tiền Bangladesh); 02 đồng (tiền xu) ngoại tệ tổng giá trị 10 BDT (tiền Bangladesh); 03 tờ tiền ngoại tệ tổng giá trị 160 PKR (tiền Pakistan).

P thấy điện thoại Iphone 7 Plus và máy tính bảng Ipad Mini gen 5 bị khóa màn hình và hiển thị tiếng nước ngoài, sợ có định vị nên P đã ném điện thoại và Ipad xuống sông C. Sau đó P bảo H chở đến cửa hàng vàng bạc Kim C do anh Nguyễn Mạnh C làm chủ để bán ngoại tệ. P và H bán cho anh C 250 Euro, 06 Đô la Mỹ, 15.000 Yên Nhật và 180 bảng Anh được số tiền 15.000.000 Việt Nam đồng. Thấy bán ngoại tệ được nhiều tiền, H tiếp tục chở P đến cửa hàng vàng bạc Ngọc D (gần cửa hàng Kim C ) để bán ngoại tệ nhưng anh Dương Thanh T2, sinh năm 1986 là chủ cửa hàng không mua. Sau đó H chở P đi cắt tóc, mua sắm quần áo hết 3.600.000 đồng còn 11.400.000 đồng P cất giữ, sau đó cả hai đi về đến xã P, huyện G, tỉnh Ninh Bình, P vứt chiếc túi xách cùng chìa khóa và thiết bị định vị Apple Airtag xuống sườn đê. H cất số quần áo mới mua cùng với số tài sản còn lại vào trong cốp xe mô tô sau đó cả hai đi về.

Sau khi bị mất tài sản anh Taku K…. đã làm đơn trình báo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định trưng cầu chị Ngô Thị T3, sinh năm 1982 trú tại thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình là người phiên dịch và dịch thuật cho anh Taku K…. Anh Taku K… đã làm giấy ủy quyền cho chị Dương Thị D, sinh năm 1985 trú tại thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình là người đại diện hợp pháp, thay mặt anh Taku K… tham gia giải quyết vụ án. Anh Taku K… và chị D đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, sau đó anh Taku K… đi về nước.

Khoảng 15 giờ 25 phút ngày 31/3/2023, Nguyễn Ngọc P đến Cơ quan cảnh sát điều tra huyện H, tỉnh Ninh Bình đầu thú. Trần Văn Duy H bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình bắt giữ khẩn cấp ngay sau đó.

Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/3/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Ngọc P và Trần Văn Duy H, kết quả không thu giữ tài sản, đồ vật gì.

* Thu giữ vật chứng, tài sản, phƣơng tiện phạm tội:

- Thu giữ tại hiện trường 01 xe đạp nữ màu xanh, giỏ xe màu trắng.

- Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng, thu giữ tại bờ đê sông H thuộc xã P, huyện G, tỉnh Ninh Bình: 01 túi xách màu đen nhãn hiệu CABIN ZERO, móc và 01 chìa khóa, 01 thiết bị định vị Apple Airtag. Đối với 01 điện thoại Iphone 7 Plus và 01 máy tính bảng Ipad Mini gen 5, Phú vứt xuống sông Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.

- Thu giữ của Nguyễn Ngọc P: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã cũ, lắp sim số 0342.956.7… (kiểm tra điện thoại không có nội dung gì liên quan đến vụ án), số tiền 15.000.000 đồng (trong đó có 11.400.000 đồng là tiền bán ngoại tệ, P tự nguyện nộp lại số tiền 3.600.000 đồng tiền P, H đã chi tiêu).

- Thu giữ của Trần Văn Duy H: 01 xe mô tô HONDA LEAD, màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2-543….. (kèm theo 01 đăng ký xe); 01 điện thoại di động Vsmart Joy 4, màu xanh dương đã cũ, lắp sim số 0971.950.867 (kiểm tra điện thoại vào hồi 07 giờ 31 phút và 07 giờ 32 phút ngày 31/3/2023: 02 lần gọi đến số máy 0342.956.783); 01 mũ bảo hiểm màu vàng đã cũ, trên vỏ mũ có ghi dòng chữ “thegioidienthoai.3D”; 01 áo khoác dài tay, 02 quần dài màu đen, 01 thắt lưng màu đen, 02 đôi giày giả da, 02 áo phông và 02 áo sơ mi cộc tay (quần áo, giày, thắt lưng P và H mua chưa kịp sử dụng), 01 túi vải dạng lưới màu đen bên trong có 01 hộ chiếu, 02 thẻ ngân hàng tất cả đều mang tên Taku K…, 01 bộ dây (củ và sạc) Apple, 01 đôi tai nghe không dây, 01 túi zip bằng nhựa mềm trong suốt, bên trong ví có 01 ví da màu đen và 01 túi zip nhựa mềm màu đen. Bên trong túi zip nhựa màu đen có: 15 tờ tiền, 13 đồng (tiền xu) có tổng giá trị 3.015 Baht (Bạt Thái Lan); 07 tờ tiền, 07 đồng (tiền xu) có tổng giá trị 1.570 INR (tiền Ấn Độ); 14 đồng (tiền xu) có tổng giá trị 1.830 JPY (tiền Yên Nhật); 09 tờ tiền có tổng giá trị 85.000 LAK (tiền Lào); 11 tờ tiền có tổng giá trị 310 NPR (tiền Nepan); 09 tờ tiền, 02 đồng (tiền xu) có tổng giá trị 760 BDT (tiền Bangladesh); 03 tờ tiền có tổng giá trị 160 PKR (tiền Pakistan).

- Thu giữ tại cửa hàng vàng bạc Kim C: 250 Euro, 06 Đô la Mỹ, 15.000 Yên Nhật và 180 bảng Anh.

* Kết quả trƣng cầu giám định và định giá tài sản.

- Trưng cầu giám định:

+ Ngày 11/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định số: 36/QĐ-CSĐT trưng cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giám định các loại tiền trong mẫu gửi giám định là loại tiền gì? Tỷ giá ngày 31/3/2023 là bao nhiêu? Tổng giá trị tính theo đơn vị tiền tệ tiền Việt Nam đồng trong từng mẫu giám định là bao nhiêu?

Ngày 24/4/2023, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có công văn trả lời số: 2892/NHNN-TTGSNH gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình với nội dung: “Quyết định trưng cầu giám định số: 36/QĐ-CSĐT, không thuộc phạm vi giám định tư pháp của NHNN trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động Ngân hàng. Do đó NHNN không giám định với nội dung yêu cầu giám định này”.

+ Ngày 11/5/2023, Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình có văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề nghị cung cấp mẫu ngoại tệ tương ứng với đặc điểm ngoại tệ đã thu giữ để làm mẫu so sánh trong quá trình giám định.

Tại văn bản số: 335/PHKQ3 ngày 24/5/2023 của Cục phát hành và Kho quỹ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã trả lời: “Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không lưu giữ các loại tiền mẫu ngoại tệ tương ứng với số ngoại tệ cơ quan điều tra đã thu giữ được để cung cấp”.

+ Ngày 16/5/2023, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - chi nhánh tỉnh Ninh Bình đã cung cấp tỷ giá 07 loại ngoại tệ gồm: Tỷ giá trung tâm 01 USD = 23.600 VNĐ; Tỷ giá chéo giữa VNĐ và một số loại ngoại tệ: 01 Baht Thái = 689,7 VNĐ; 01 Rupee Ấn Độ = 286,7 VNĐ; 01 Kíp Lào = 1,4 VNĐ; 01 Euro = 25.562 VNĐ; 01 Bảng Anh = 29.078,9 VNĐ; 01 Yên Nhật = 178,9 VNĐ.

+ Đối với tỷ giá của 03 loại ngoại tệ gồm tiền Nepan (NPR), tiền Bangladesh (BDT), tiền Pakistan (PKR). Tại công văn số: 198/CV-NBI-KT ngày 25/5/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - chi nhánh Ninh Bình (Vietcombank) không có tỷ giá giao dịch của 03 loại tiền tệ trên.

- Định giá tài sản:

+ Ngày 05/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định định giá tài sản số: 05/YC-CSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Ninh Bình định giá tài sản.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL- HĐĐGTS ngày 13/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Ninh Bình kết luận: “Giá trị các loại tài sản thời điểm ngày 31/3/2023: 01 điện thoại Iphone 7 Plus, màu đen có giá 2.400.000 đồng; 01 máy tính bảng Ipad Mini gen 5, màu vàng có giá 4.400.000 đồng, 01 thiết bị định vị Apple Airtag có giá 1.600.000 đồng, 01 bộ (dây và củ sạc) Apple có giá 500.000 đồng, 01 đôi tai nghe không dây có giá 5.100.000 đồng, 01 túi xách CABIN ZERO có giá 0 đồng. Tổng giá trị 14.000.000 đồng”.

+ Căn cứ tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - chi nhánh tỉnh Ninh Bình và kết luận định giá xác định, tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt của anh Taku K…. ngày 31/3/2023 là 31.426.453 đồng, trong đó số tiền 14.000.000 đồng là tiền tài sản đã định giá, số tiền 17.426.453 đồng là tỷ giá của 07 loại ngoại tệ đã được quy đổi sang tiền VNĐ.

* Trách nhiệm dân sự: Ngày 14/8/2023, gia đình các bị cáo Nguyễn Ngọc P và Trần Văn Duy H đã thỏa thuận bồi thường cho chị Dương Thị D là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của người bị hại số tiền 6.800.000 đồng (tiền giá trị 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus và 01 máy tính bảng Ipad Mini gen 5 mà P đã vứt xuống sống không thu hồi được), chị D đã nhận tiền và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

* Xử lý vật chứng và tài sản:

- Ngày 17/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 09/QĐ-CQĐT trả lại cho ông Bùi Phương Đ chủ sở hữu chiếc xe đạp nữ, màu xanh. Ông Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

- Ngày 31/3/2023 và ngày 24/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã ra các Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Taku K… và chị Dương Thị D những tài sản của anh Taku K…. bị chiếm đoạt đã thu giữ. Nhận lại tài sản anh Taku K…. và chị Dương Thị D không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKSNB-P2 ngày 22 tháng 8 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc P và Trần Văn Duy H về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo Nguyễn Ngọc P theo các điểm d, i khoản 2, khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Văn Duy H theo điểm d khoản 2, khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Ngọc P và Trần Văn Duy H thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trần Thị Huyền T1 đề nghị Hội đồng xét xử cho chị xin lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2-543….. cùng chứng nhận đăng ký xe mô tô bản chính, 01 mũ bảo hiểm màu vàng trên vỏ mũ có ghi kí tự “thegioidienthoai.3D” do đây là tài sản hợp pháp của chị. Ngày 31/3/2023 khi Hiếu sử dụng xe máy và mũ bảo hiểm để thực hiện hành vi phạm tội chị không biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc P và Trần Văn Duy H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng các điểm d, i khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P từ 05 năm đến 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/3/2023.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Duy H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/3/2023.

Miễn hình phạt bổ sung đối vớ các bi cáo P và H theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

* Biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý các vật chứng đã thu giữ như sau:

- Trả lại cho chị Trần Thị Huyền T1: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2-543….. cùng chứng nhận đăng ký xe mô tô bản chính.

- Trả lại cho anh Nguyễn Mạnh C số tiền 15.000.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã cũ, lắp sim số 0342.956.7…

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Duy H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh dương đã cũ, lắp sim số 0971.950.8….; 01 mũ bảo hiểm; 01 áo khoác dài tay, 02 quần dài màu đen, 01 thắt lưng da màu đen, 02 đôi giày (01 đôi giày giả da màu đen, 01 đôi giày da màu trắng), 02 áo phông cộc tay (01 áo phông cộc tay màu trắng, 01 áo phông cộc tay màu đen) và 02 áo sơ mi cộc tay màu trắng.

Tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen và 01 điện thoại di động Vsmart Joy 4, màu xanh dương để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.

Các bị cáo P và H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; Đơn xin đầu thú của bị cáo Nguyễn Ngọc P tại Cơ quan điều tra; Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐGTS ngày 13/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Ninh Bình; tỷ giá 07 loại ngoại tệ gồm: tiền Đô la Mỹ, tiền Baht Thái Lan, đồng Rupee Ấn Độ, tiền Kíp Lào, đồng Euro, tiền Bảng Anh, đồng Yên Nhật ngày 16/5/2023 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - chi nhánh tỉnh Ninh Bình đã cung cấp và các vật chứng, tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/3/2023, Trần Văn Duy H sử dụng xe mô tô HONDA LEAD, màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2-543…. chở Nguyễn Ngọc P đi trên đường T đến thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình (giáp với Bến thuyền). Khi phát hiện thấy trong giỏ xe phía trước xe đạp của anh Taku K… có 01 túi xách màu đen, H điều khiển xe mô tô áp sát vào phía bên tay trái xe đạp của anh Taku K… để P ngồi phía sau dùng tay phải giật chiếc túi xách của anh Taku K…. bên trong có nhiều giấy tờ, tài sản và ngoại tệ có tổng giá trị tài sản là 31.426.453 đồng rồi nhanh chóng bỏ chạy. Đến khoảng 15 giờ 25 phút ngày 31/3/2023, Nguyễn Ngọc P đến Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đầu thú. Trần Văn Duy H bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình bắt giữ khẩn cấp ngay sau đó. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc P, Trần Văn Duy H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự, là tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 407/2020/HS-ST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nay lại phạm tội mới về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Điều 171. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

...............

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm

i) Tái phạm nguy hiểm

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc P, Trần Văn Duy H với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Ngọc P, Trần Văn Duy H đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc tội phạm rất nghiêm trọng, thực hiện hành vi phạm tội đối với người nước ngoài, xảy ra gần các khu du lịch nổi tiếng, trong đó có quần thể danh thắng T được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín, đất nước, con người Việt Nam nói chung và con người Ninh Bình nói riêng, do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục cải tạo các bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp:

- Đây là vụ án đồng phạm giản đơn có 02 bị cáo tham gia bị cáo Nguyễn Ngọc P là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo bị cáo H tham gia đồng thời cũng là người thực hành. Bị cáo Trần Văn Duy H có hành vi dùng xe mô tô chở bị cáo P để thực hiện hành vi cướp giật tài sản với vai trò là người thực hành, nên bị cáo P có tính chất, mức độ, vai trò cao hơn bị cáo H.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: cả 02 bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa cả 02 bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo Phú tự nguyện nộp lại số tiền 3.600.000 đồng là số tiền các bị cáo đã tiêu sài trong tổng số tiền 15.000.000 đồng bán ngoại tệ cho anh C; trong thời gian tạm giam các bị cáo P, H đã tác động gia đình bồi thường số tiền 6.800.000 cho bị hại (tiền giá trị chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus và máy tính bảng Ipad Mini gen 5 mà bị cáo P đã vứt xuống sông không thu hồi được); bị cáo P sau khi thực hiện hành vi phạm tội chiều ngày 31/3/2023 đã tự nguyện đến Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đầu thú về hành vi phạm tội của mình; quá trình điều tra người đại diện theo ủy quyền của bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được xem xét áp dụng cho các bị cáo khi lượng hình.

- Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Ngọc P là người có nhân thân xấu, bị cáo đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Văn Duy H đang có 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại phạm tội mới thuộc tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định với mức hình phạt bị cáo P cao hơn bị cáo H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Do các bị cáo đang sống chung với bố mẹ, không có tài sản riêng nên cần miễn hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý các vật chứng đã thu giữ như sau:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2-543…. cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô bản chính số 119966, 01 mũ bảo hiểm màu vàng trên vỏ mũ có ghi kí tự “thegioidienthoai.3D”. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Huyền T1, khi bị cáo H sử dụng chiếc xe mô tô này để đi cướp tài sản chị T1 không biết. Do đây là tài sản hợp pháp của chị T1 nên cần trả lại các tài sản trên cho chị Trần Thị Huyền T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với số tiền 15.000.000 đồng (gồm 11.400.000 đồng tiền bán ngoại tệ và 3.600.000 đồng bị cáo P tự nguyện giao nộp do H, P đã chi tiêu) đã thu giữ của bị cáo P. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền các bị cáo P và H bán ngoại tệ gồm: 250 Euro, 06 Đô la Mỹ, 15.000 Yên Nhật tại cửa hàng vàng bạc Kim C do anh Nguyễn Mạnh C làm chủ. Khi mua số ngoại tệ trên anh C không biết đó là tài sản do các bị cáo P, H phạm tội mà có. Theo quy định của pháp luật đây là tiền do phạm tội mà có cần phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên sau khi hành vi phạm tội của các bị cáo bị phát hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ tại cửa hàng Kim C toàn bộ số ngoại tệ trên và đã trả lại cho bị hại. Do vậy cần phải trả lại số tiền 15.000.000 đồng cho anh Nguyễn Mạnh C là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen vỏ nhựa, lắp sim viettel số 0342.956.7… đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh dương, lắp sim viettel số 0971.950.8… cùng 01 áo khoác dài tay, 02 quần dài màu đen, 01 thắt lưng da màu đen, 02 đôi giày (01 đôi giày giả da màu đen, 01 đôi giày kiểu giày da màu trắng), 02 chiếc áo phông cộc tay (01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng, 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen) và 02 áo sơ mi cộc tay màu trắng đã thu giữ của bị cáo Trần Văn Duy H. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại di động trên và các tài sản còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần trả lại cho các bị cáo P và H nhưng tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệuVsmart Joy 4, màu xanh dương và số tiền 15.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo và trả lại cho anh C.

Đối với chị Trần Thị Huyền T1 đã để cho bị cáo H sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, biển kiểm soát 35B2-543…. để đi cướp giật tài sản ngày 31/3/2023. Anh Nguyễn Mạnh C đã có hành vi mua ngoại tệ của các bị cáo Phú và Hiếu gồm: 250 Euro, 06 Đô la Mỹ, 15.000 Yên Nhật với tổng số tiền 15.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định chị T1 không biết H sử dụng xe mô tô của mình để thực hiện hành vi phạm tội. Anh C không biết số ngoại tệ đã mua do các bị cáo phạm tội mà có nên chị T1 và anh C không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Đối với hành vi mua ngoại tệ trái phép của anh Nguyễn Mạnh C, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã có chuyển tài liệu để Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình xử lý anh Cường về hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng là đúng quy định của pháp luật.

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Các bị cáo bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm d, i khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P;

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn Duy H;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Các Bị cáo Nguyễn Ngọc P, Trần Văn Duy H phạm tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt:

1.1. Bị cáo Nguyễn Ngọc P 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/3/2023.

1.2. Bị cáo Trần Văn Duy H 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/3/2023.

2. Biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:

- Trả lại cho chị Trần Thị Huyền T1: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2-543…. kèm theo 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô bản chính số: 1199… và 01 mũ bảo hiểm.

- Trả lại cho anh Nguyễn Mạnh C số tiền 15.000.000 đồng (Số tiền này hiện đang gửi tại tài khoản 3949.0.1054125.00000 Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình tại kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh Bình theo Ủy nhiệm chi số 03 của Công an tỉnh Ninh Bình lập ngày 29/8/2023 để trả lại cho anh C).

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen vỏ nhựa, lắp sim viettel số 0342.956.7….

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Duy H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4; 01 áo khoác dài tay, 02 quần dài màu đen, 01 thắt lưng da màu đen, 02 đôi giày, 02 chiếc áo phông cộc tay và 02 áo sơ mi cộc tay màu trắng.

Tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh dương để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo P và H.

(Chi tiết như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3. Án phí: Các bị cáo Nguyễn Ngọc P, Trần Văn Duy H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ