vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thanh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày: 07 – 08 – 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Luyến và ông Lưu Xuân Vĩnh.

Thư ký phiên tòa: ông Biện Việt Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: ông Nguyễn Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 07 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Thanh H, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khu phố 15, phường M, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1958 và bà Võ Thị Ngọc M1, sinh năm 1959; vợ con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: bị Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 03/2018/HSST ngày 28/5/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/01/2021, chưa được xóa án tích.

Nhân thân: bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 28/2011/HSST ngày 16/03/2011, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2012; bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 141/2013/HSST ngày 09/8/2013, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/6/2014; bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số tại bản án số 54/2015/HSST ngày 04/5/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/7/2017; tất cả 03 bản án này đều đã đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận từ ngày 19/04/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Trần Hoài T, sinh năm 2003, nơi cư trú: xóm 4, thôn 4, xã S, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo, tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/04/2023, bị cáo Võ Thanh H đã đi xe khách từ chợ T1, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận đến thị trấn L, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã bộ theo đường ĐT720 hướng từ thị trấn L đến xã S, huyện Tánh Linh để tìm tài sản sơ hở. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 16/04/2023, bị cáo đến địa bàn thôn 4, xã S, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận thì phát hiện có 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xám bạc, biển số 86B7-063.30 của anh Trần Hoài T đang dựng trước hiên nhà của anh T, có cắm chìa khóa trên ổ khóa xe; bị cáo lén lút đi vào đắt xe mô tô này ra đường ĐT720, khởi động máy, điều khiển xe chạy theo đường ĐT720 đến huyện Hàm Tân, rồi chạy theo đường Quốc lộ 1A đến thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Đến sáng ngày 17/04/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô trộm cắp được của anh T chạy theo đường ĐT706 đến huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Khi bị cáo đến đoạn đường liên thôn xã H, huyện Bắc Bình thì thấy có người đuổi theo bị cáo, bị cáo điều khiển xe mô tô bỏ chạy thì rớt biển số xe và bị té ngã; bị cáo bỏ xe lại và chạy trốn vào rừng gai. Đến sáng ngày 18/04/2023, bị cáo quay lại vị trí đã té ngã để tìm lại xe mô tô này thì bị Công an xã H, huyện Bắc Bình tiến hành kiểm tra hành chính và bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 18/40/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tánh Linh, kết luận: 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám bạc, đã qua sử dụng, dung tích xi lanh 110cm3, loại thắng đùm, biển số 86B7-063.30 mà bị cáo Võ Thanh H đã lén lút chiếm đoạt của anh Trần Hoài T có giá là 4.830.000đồng.

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSND-TL ngày 28/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Võ Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xủ phạt bị cáo Võ Thanh H với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị hại anh Trần Hoài T không yêu cầu bị cáo Võ Thanh H bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không xét xử, giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[3] Về vật chứng:

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám bạc, đã qua sử dụng, dung tích xi lanh 110cm3, loại thắng đùm, biển số 86B7-063.30; số tiền 4.260.000đồng và 01 chứng minh nhân dân của bị cáo Võ Thanh H. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tánh Linh đã trả lại xe mô tô nêu trên anh Trần Hoài T và trả lại số tiền 4.260.000đồng cùng chứng minh nhân dân cho bị cáo Võ Thanh H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý các vật chứng này.

[4] Ý kiến của bị cáo, bị hại:

Bị cáo thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin giãm nhẹ hình phạt.

Bị hại thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo, không có ý kiến tranh luận, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó hoạt động tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về thẩm quyền giải quyết:

Bị cáo bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), có mức hình phạt cao nhất đến 07 năm tù là thuộc tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội phạm được thực hiện tại địa bàn huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về định tội danh; tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:

Về định tội danh:

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án; do đó có đủ căn cứ xác định bị cáo đã thực hiện hành vi như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút 15/4/2023, bị cáo Võ Thanh H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã đi bộ theo đường ĐT720, hướng từ thị trấn L đến xã S tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 16/04/2023, bị cáo đến địa bàn thôn 4, xã S, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận thì phát hiện có 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám bạc, biển số 86B7-063.30 của anh Trần Hoài T đang dựng trước hiên nhà của anh T, có cắm chìa khóa xe trên ổ khóa xe; bị cáo lén lút đi vào dắt xe mô tô này ra đường ĐT720 rồi khởi động máy điều khiển xe chạy đến thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Đến sáng ngày 17/4/2023, bị cáo tiếp tục điều khiển xe mô tô trộm cắp được của anh T chạy theo đường ĐT706 đến huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận; khi đến đoạn đường liên thuộc thôn xã H, huyện Bắc Bình, bị cáo thấy có người đuổi theo nên đã điều khiển xe bỏ chạy và bị té ngã; bị cáo bỏ xe mô tô này lại và chạy trốn. Đến sáng ngày 18/4/20323, bị cáo quay lại để tìm xe mô tô thì bị Công an xã H, huyện Bắc Bình tiến hành kiểm tra hành chính và bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo Võ Thanh H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thế nhưng chỉ vì mục đích muốn có tiền tiêu xài cá nhân; lợi dụng thời điểm chủ sở hữu không trông giữ tại sản cẩn thận; bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, cố ý lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe môtô hiệu Yamaha Sirius, màu xám bạc, biển số 86B7-063.30 của anh Trần Hoài T có trị giá 4.830.000đồng (Theo Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS, ngày 18/4/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tánh Linh – Bút lục số 46,47). Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và đã bị áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo bản án số 03/2018/HSST ngày 28/5/2018, chưa được xóa án tích; thế nhưng ngày 16/4/2023, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Trần Hoài T; do đó hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; do đó, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về quyết định hình phạt:

Hành vi bị cáo đã thực hiện làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; gây bất bình, hoang mang trong quần chúng nhân dân; bị cáo có nhân thân không tốt, đã từng 04 lần bị Tòa án xửa phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thế nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo không cố gắng tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người sống có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này cho thấy bị cáo không có ý thức cải tạo và xem thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh theo quy định của pháp luật để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị hại anh Trần Hoài T không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xét xử, giải quyết.

Về vật chứng:

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám bạc, đã qua sử dụng, dung tích xi lanh 110cm3, loại thắng đùm, biển số 86B7-063.30 của anh Trần Hoài T; số tiền 4.260.000đồng và 01 chứng minh nhân dân của bị cáo Võ Thanh H. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tánh Linh đã trả lại xe mô tô nêu trên cho chủ sở hữu anh Trần Hoài T, trả lại số tiền 4.260.000đồng cùng chứng minh nhân dân cho chủ sở hữu bị cáo Võ Thanh H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý.

. Về án phí:

Cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc bị cáo Võ Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh:

Căn cứ vào Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Võ Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Võ Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam – Ngày 19/04/2023.

[3] Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Võ Thanh H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo:

Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo, bị hại đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án - Ngày 07/08/2023 (Đã giải thích quyền kháng cáo).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ