vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Quý phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Quý 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/01/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Quý phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày: 27-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vương Huy Vượng.

2. Ông Lê Sỹ Chiến.

Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Quý, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 07/02/1997 tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: Bản Nậm Bon, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; chức vụ trước khi phạm tội: Không có. Con ông Lò Văn Khang, sinh năm 1969 và con bà Vũ Thị Ninh, sinh năm 1970. Gia đình bị cáo có 03 anh, chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Có vợ Hoàng Thị Tỉnh, sinh năm 1998; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án, cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2021/HS-ST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lò Văn Quý 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra còn tuyên phạt bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 510.000 đồng, Lò Văn Quý chưa thi hành xong số tiền này. Đến ngày 28/10/2021, Lò Văn Quý chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Hiện bị cáo Lò Văn Quý chưa được xóa án tích.

Bị cáo Lò Văn Quý bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ hồi 00 giờ 10 phút, ngày 09/01/2023, tạm giam từ ngày 18/01/2023 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên (Có mặt).

- Các bị hại:

1. Ông Lò Văn Khang, sinh năm 1969; nơi cư trú: Bản Nậm Bon, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt).

2. Bà Vũ Thị Ninh, sinh năm 1970; nơi cư trú: Bản Nậm Bon, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 08/01/2023, Lò Văn Quý (là người đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích) ngủ dậy thì thấy bố mẹ đi vắng rồi đi vào bếp sưởi lửa. Do không có tiền mua ma tuý để sử dụng thoả mãn cơn nghiện nên Quý nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Sau đó, Quý nhặt 01 bao tải xác rắn, màu ghi ở gần đó rồi ra chuồng ngan của bố mẹ là ông Lò Văn Khang sinh năm 1969, mẹ là bà Vũ Thị Ninh, sinh năm 1970, bắt trộm 02 con ngan (trong đó 01 con ngan đực màu lông trắng đen có khối lượng là 3,2kg, 01 con ngan cái màu lông đen có khối lượng 1,8kg) của ông Khang, bà Ninh (đây là tài sản riêng của ông Khang, bà Ninh) và cho vào trong bao tải xác rắn màu ghi. Trộm cắp được tài sản, Quý đi bộ và cầm theo bao tải có cất giấu 02 con ngan đi từ nhà ra bản Phúc Khoa, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Khoảng 08 giờ 40 phút, cùng ngày ông Lò Văn Khang đi làm ruộng về và đi cho ngan của gia đình ăn thì phát hiện mất 02 con ngan nên điều khiển xe mô tô đi tìm kiếm. Sau đó, ông Khang điều khiển xe đến đường Quốc lộ 32 thuộc địa phận bản Phúc Khoa, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên thì nhìn thấy Quý đang đi bộ trên tay đang cầm 01 bảo tải màu ghi và thấy có 01 con ngan đang thò cổ ra ngoài đúng là con ngan của gia đình ông Khang nên biết Quý là người đã lấy trộm ngan. Thấy vậy, Quý đã bỏ lại 01 tải bên trong có 02 con ngan rồi bỏ chạy, ông Khang kiểm tra thì nhận thấy đó là 02 con ngan của gia đình nên đã mang bao tải cùng 02 con ngan xuống Công an xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên để giao nộp và tố giác hành vi phạm tội của Lò Văn Quý. Cùng ngày, Lò Văn Quý bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện Tân Uyên giữ người trong trường hợp khẩn cấp về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 16/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Uyên kết luận: 02 con ngan có tổng trị giá là 400.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS-TU, ngày 06/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên truy tố bị cáo Lò văn Quý về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản Kết luận điều tra và bản Cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Quý phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lò Văn Quý từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng thu giữ của ông Lò Văn Khang giao nộp: 02 con ngan (trong đó 01 con ngan đực màu lông trắng đen có khối lượng là 3,2kg, 01 con ngan cái màu lông đen có khối lượng 1,8kg). Xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Lò Văn Khang. Ngày 05/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành trao trả số tài sản trên trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lò Văn Khang.

Về phần dân sự: Ông Lò Văn Khang, bà Vũ Thị Ninh không đề nghị bị cáo Lò Văn Quý phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 08/01/2023, tại bản Nậm Bon, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Lò Văn Quý, sinh ngày 20/02/1997 là người đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, mà còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp 02 con ngan (trong đó 01 con ngan đực màu lông trắng đen có khối lượng là 3,2kg, 01 con ngan cái màu lông đen có khối lượng 1,8kg) trị giá 400.000 đồng của ông Lò Văn Khang, bà Vũ Thị Ninh, mục đích mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.

Bị cáo Lò văn Quý là người có 01 tiền án. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2021/HS-ST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lò Văn Quý 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện chưa được xóa án tích. Bị cáo Lò Văn Quý là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo ý thức được điều đó nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện chỉ vì những ham muốn vật chất của bản thân, vì lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo Lò Văn Quý đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên được bố, mẹ nuôi dưỡng tại xã Tà Mít, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Từ năm 2011 đến nay di dân tái định cư sinh sống tại Bản Nậm Bon, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu và học hết lớp 5/12 rồi bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình và xây dựng gia đình. Ngày 09/01/2023 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đến ngày 17/01/2023 bị cáo bị khởi tố.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án phù hợp, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo khó khăn về kinh tế, không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định. Do đó Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Vật chứng thu giữ của ông Lò Văn Khang: 02 con ngan (trong đó 01 con ngan đực màu lông trắng đen có khối lượng là 3,2kg, 01 con ngan cái màu lông đen có khối lượng 1,8kg). Xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Lò Văn Khang. Ngày 05/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành trao trả số tài sản trên trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lò Văn Khang nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

Về phần dân sự: Tài sản bị Lò Văn Quý trộm cắp đã được thu hồi nên ông Lò Văn Khang, bà Vũ Thị Ninh không đề nghị bị cáo Lò Văn Quý phải bồi thường. Do vậy Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Quý phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Quý 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/01/2023.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về án phí: Bị cáo phải chiu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên. Bị hại ông Lò Văn Khang, bà Vũ Thị Ninh vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết lên tòa án cấp trên.

Cỡ chữ