vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "1. Đoàn Thế Minh Q, sinh ngày 26/10/2006 N - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Tßa ¸n nh©n d©n
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 41 /2023/HS-ST
Ngµy: 25 -7- 2023

Nh©n danh

N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam

Toµ ¸n nHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƢƠNG - TØnh Thanh ho¸

- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Bïi ThÞ HuyÒn

C¸c Héi thÈm nh©n d©n: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Đoàn thanh niên

Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh - Giáo viên hƣu trí

- Th ký phiªn toµ: Ông Hoàng Văn Hoan - Th ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xƣơng, tØnh Thanh Ho¸.

- §¹i diÖn Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tØnh Thanh Ho¸ tham gia phiªn toµ: Bà Nguyễn Thị Hƣơng - KiÓm s¸t viªn [

Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/TLST - HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 28 ngày 15 tháng 5 năm 2023. Quyết định hoãn phiên tòa số 10 ngày 29/5/2023. Quyết định hoãn phiên tòa số 14 ngày 27/6/2023 đối với các bị cáo.

1. Đoàn Thế Minh Q, sinh ngày 26/10/2006 Nơi cƣ trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: Lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Đoàn Thế L và bà Phạm Thị H; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không; tạm giữ: không; tạm giam ngày 16/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng X. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Tuấn V, sinh ngày 16/ 01/2006 . Nơi cƣ trú: thôn X, Phƣờng Q, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Lê Tiến D và bà Phạm Thị N; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không; tiền sự: Ngày 03/6/2022 Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Đánh bạc" với mức phạt tiền 250.000 đồng. Tạm giữ; không; tạm giam ngày 16/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Phạm Hồng T, sinh ngày 12/12/2005. Nơi cƣ trú: thôn Tr, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Phạm Hồng D và bà Đặng Thị T; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không; tạm giữ: không; tạm giam ngày 16/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Lê Nhật T, sinh ngày 29/7/2005. Nơi cƣ trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Lê Văn H và bà Bùi Thị T; vợ: chƣa; tiÒn ¸n,tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 09/12/2019 Công an Thành phố T xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (hành vi xảy ra ngày 06/12/2019); tạm giữ: không; tạm giam ngày 16/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Lê Văn C, sinh ngày 26/8/2005. Nơi cƣ trú: Làng N, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Lê Văn D và bà Lê Thị G; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không; tạm giữ: không; tạm giam ngày 16/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6. Mai Xuân K, sinh ngày 26/8/2006. Nơi cƣ trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Mai Xuân T và bà Dƣơng Thị H; vợ: chƣa; tiÒn ¸n: không; tiền sự: Ngày 30/9/2022 công an thành phố T xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi cố ý gây thƣơng tích; tạm giữ: không; tạm giam ngày 16/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

7. Trịnh Duy L, sinh ngày 08/11/2005. Nơi cƣ trú: Phƣờng A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Trịnh Duy H và bà Nguyễn Thị L; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 16/8/2021 công an thành phố T xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cáp tài sản. Ngày 08/9/2021 UBND phƣờng A, thành phố T quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phƣờng, thị trấn về hành vi trộm cắp tài sản ;tạm giữ: không; tạm giam ngày 16/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

8. Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 19/11/2001. Nơi cƣ trú: Phố T, Phƣờng A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Nguyễn Ngọc Q và bà Trần Thị T; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không; tạm giữ: không; tạm giam ngày 23/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

9. Lê Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 10/02/2004. Nơi cƣ trú: Số nhà 04/275, đƣờng N, Phƣờng T, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Lê Hồng Q (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không; tạm giữ: không; tạm giam ngày 23/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

10. Lê Hoàng S, sinh ngày 07/02/2002. Nơi cƣ trú: Phố N, Phƣờng A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Lê Văn H (Đã chết) và bà Doãn Thị T; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

11. Phùng Huy H, sinh ngày 30/7/1997. Nơi cƣ trú: Tổ dân phố T, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Phùng Bá Á và bà Nguyễn Thị H; vợ: Nguyễn Thị Thu T, có 01 con; tiÒn ¸n, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

12. Lê Bá Minh C, sinh ngày 13/01/2004. Nơi cƣ trú: Tổ dân phố D, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Lê Bá H và bà Lê Thị Hoàng Y; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 12/4/2021 UBND thị trấn T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.250.000đ về hành vi “Xâm hại sức khỏe của ngƣời khác”. Đã nộp phạt ngày 22/7/2021. Tạm giữ, tạm giam: không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho các bị cáo:

1. Ông Phạm Văn S - Luật sƣ thuộc Công ty Luật TNHH N, Đoàn Luật sƣ tỉnh Thanh Hóa. Là ngƣời bào chữa cho bị cáo Trịnh Duy L .

2. Ông Trần Tiến Q - Luật sƣ thuộc Công ty Luật TNHH N, thuộc Đoàn Luật sƣ tỉnh Thanh Hóa. Là ngƣời bào chữa cho bị cáo Mai Xuân K

3. Bà Nguyễn Thị H - Luật sƣ thuộc Công ty Luật TNHH N, Đoàn Luật sƣ Thanh Hóa. Là ngƣời bào chữa cho bị cáo Lê Văn C và bị cáo Lê Nhật T

4. Ông Lê Khắc H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Thanh Hóa. Là ngƣời bào chữa cho bị cáo Phạm Hồng T, Lê Tuấn V, Đoàn Thế Minh Q.

* Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo:

1. Ông Đoàn Thế L - sinh năm 1976. Nơi cƣ trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. (Là ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo Đoàn Thế Minh Q) - có mặt

2. Ông Lê Tiến D - sinh năm 1978. Nơi cƣ trú: Thôn X, phƣờng Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Là ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Tuấn V) - có mặt.

3. Bà Bùi Thị T - sinh năm 1976. Nơi cƣ trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Là ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Nhật T) - vắng mặt.

4. Bà Đặng Thị T - sinh năm 1986. Nơi cƣ trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Là ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Hồng T) - có mặt.

5. Bà Lê Thị G - sinh năm 1977. Nơi cƣ trú: Làng N, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Là ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Văn C) - có mặt.

6. Ông Mai Xuân T - sinh năm 1979. Nơi cƣ trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa (Là ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo Mai Xuân K) - có mặt.

7. Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1975. Nơi cƣ trú: Phố Q, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Là ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo Trịnh Duy L) - có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: (trong vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

1. Chị Trần Thị Q - sinh năm 1997 Nơi cƣ trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

2. Chị Viên Thị Y - sinh năm 1983 Nơi cƣ trú: Thôn 8, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

3. Anh Hồ Đức B- sinh năm 1988 Nơi cƣ trú: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

4. Chị Lê Thị L - sinh năm 1978 Nơi cƣ trú:Thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

5. Anh Nguyễn Phó H - sinh năm 1985 Nơi cƣ trú:Thôn H, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

6. Anh Đới Sỹ Đ - sinh năm 1990 Nơi cƣ trú: Thôn 2, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

7. Anh Lê Khả H - sinh năm 1991 Nơi cƣ trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

8. Anh Nguyễn Ngọc P - sinh năm 1982 Nơi cƣ trú: Thôn 1, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

9. Anh Nguyễn Danh L - sinh năm1976 Nơi cƣ trú: Thôn 2, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

10. Anh Phạm Công Q - sinh năm 2004 Nơi cƣ trú: Thôn 4, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

11. Anh Nguyễn Đức L - sinh năm 2003 Nơi cƣ trú: Tổ dân phố H, phƣờng B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

12. Anh Lê Nhữ M - sinh năm 2003 Nơi cƣ trú: Tổ dân phố L, phƣờng B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

13. Anh Lê Sỹ L - sinh năm 2006 Nơi cƣ trú: Thôn V, xã Đông V, thành phố , tỉnh Thanh Hóa

14. Anh Vũ Đình D - sinh năm 2001 Nơi cƣ trú: Khu phố N, phƣờng Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

15. Anh Vũ Nhƣ C - sinh năm 2003 Nơi cƣ trú: phƣờng Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

16.Anh Nguyễn Thanh T - sinh năm 2003 Nơi cƣ trú: Phố C, phƣờng Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

17. Anh Nguyễn Trọng L - sinh năm 2006 Nơi cƣ trú: Phố T, phƣờng Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

18. Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 2004 Nơi cƣ trú: Phố Q, phƣờng Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

19 . Anh Nguyễn Xuân M - sinh năm 2005 Nơi cƣ trú: Thôn 9, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

20. Chị Nguyễn Thị Y - sinh năm 2004 Nơi cƣ trú: Khu phố N, phƣờng T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

21. Anh Lê Bá Nam - sinh năm 2003 Nơi cƣ trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

(Tại phiên tòa vắng mặt những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan)

Néi dung vô ¸n:

Theo c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n vµ diÔn biÕn t¹i phiªn toµ, néi dung vô ¸n ® îc tãm t¾t nh sau:

* Về hành vi Gây rối trật tự công cộng:

Khoảng 19h30’ ngày 09/12/2022, Trần Huy H điều khiển xe mô tô chở Lê Tuấn V đến nhà Đoàn Thế Minh Q ở thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa để chơi. Khi đi đến khu vực Cầu S, gần Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q thì gặp Lê Nhật T. Thấy H, T nhớ H đang nợ mình số tiền là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) chƣa trả nên T đi xe vƣợt lên, chặn xe H lại và nói to: “H ơi đứng lại đây anh nói chuyện”. H sợ không đứng lại mà tăng ga chở Vĩ bỏ chạy. Quá trình đuổi theo, T bị V ngồi sau vo tờ giấy bằng bìa cứng ném nhƣng không trúng. Sau đó, H chở V đến nhà Q. Tại đây cả hai gặp Q và Phạm Hồng T; H và V kể lại chuyện vừa bị T chặn xe lùa đuổi trên đƣờng. Sau khi nghe xong, T nói lại với cả nhóm “thôi, không vấn đề gì thì thôi” rồi cả nhóm tiếp tục ngồi chơi đƣợc một lúc thì T và V ra về. Lúc này, tại nhà Q còn lại H và Q, H nói với Q “Hay là em với mấy anh đi tìm thằng T đánh một trận”, Q đồng ý. Khi T vừa chở V về đến nhà ở phố X, phƣờng Q, Thành phố T thì Q gọi điện cho T nói “bạn ở nhà V đi xong tôi với H qua đi tí việc”. Sau đó Q và H đi đến nhà V. Tại đây Q nói với V, T, H “ bây giờ anh em ta đi tìm thằng T đánh” thì tất cả đồng ý, rồi V đi vào trong bếp lấy ra 01 con dao và 01 cây kiếm để cả nhóm sử dụng đi tìm T.

Về phần T sau khi đuổi theo H và V không đƣợc nên đi về nhà chị Nguyễn Minh X .Trên đƣờng đi về do bực tức vì bị V ném tờ giấy bằng bìa cứng trƣớc đó nên T gọi video cho H hỏi “Anh có làm gì mày đâu mà mày lại bỏ chạy?”; H trả lời: “Em tưởng là bị đánh nên em chạy”. T nói "chứ nãy thằng kia sao lại ném cái gì vào người anh”; Lúc này, V vừa lấy dao, kiếm ra nghe thấy H đang nói chuyện với T nên V đi lại ghé mặt vào điện thoại nói: “Tao ném đấy thì sao, thích thì xuống đường Phạm Tiến N thị trấn huyện Q đánh nhau” và H tắt máy. Sau khi về đến nhà chị X thì T thấy các bạn của mình gồm: Lê Nguyễn Hoàng N, Trịnh Duy L, Mai Xuân K, Lê Văn C, Nguyễn Ngọc T, Lê Hoàng S đang ngồi chơi. Tại đây T kể lại cho cả nhóm sự việc vừa xích mích với H và V rồi rủ cả nhóm đi đến Đƣờng P thuộc khu phố 2 kéo dài đến Tổ dân phố T, Thị trấn T, huyện Q để đánh nhau với nhóm V và H thì tất cả đồng ý. T liền lấy 01 con dao và 01 mũi lê rồi gọi một xe taxi chở cả nhóm đi đến điểm hẹn. Còn nhóm của H, V đi trên hai xe mô tô cầm theo dao, kiếm cũng đến điểm hẹn.

Khoảng 21h00’ cùng ngày thì nhóm của T và nhóm của H, Vgặp nhau tại ngã tƣ trƣớc trụ sở của chi nhánh tập đoàn Viettel trên đƣờng P thuộc Tổ dân phố T, Thị Trấn T, huyện Q thì T hô “Bọn nó đến đây rồi, anh em đánh chết mẹ bọn nó đi”. T tay phải cầm một con dao, mũi lê thì dắt bên hông rồi cùng S, L, C, K, T, N nhặt gạch, đá, ven đƣờng ném về phía nhóm của H. Bị nhóm T ném gạch, đá H, V, Q, T điều khiển xe mô tô cầm theo dao, kiếm bỏ chạy, vừa chạy vừa nẹt bô, rú ga, vòng xe qua lại khiêu khích, chửi bới nhóm T. Bị khiêu khích nhóm T tiếp tục hô hào nhặt thêm gạch, đá, cầm dao lùa đuổi theo ném, đánh nhóm của H. Đuổi đƣợc khoảng hơn 100m thì nhóm H yếu thế nên tăng ga bỏ chạy, nhóm T không đuổi kịp nên quay lại lên xe taxi đợi sẵn ra về. Sau khi bị nhóm T lùa đuổi chạy thoát đƣợc nên nhóm H cũng ra về.

Khi đi đến đƣờng liên xã Thị trấn T thấy trƣớc cửa một quán bia ven đƣờng (không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) có để két vỏ chai bia thì Q nói với V, H, T dừng xe lại lấy vỏ bia quay lại tìm nhóm T để đánh lại, cả nhóm đồng ý. Do phải điều khiển xe nên H và Q không lấy vỏ bia còn T và V mỗi ngƣời lấy 4 -5 vỏ chai bia thủy tinh cầm ở tay. Cả nhóm quay lại đƣờng cũ tìm nhóm T nhƣng không thấy, do bực tức vì không gặp nhóm T để đánh lại nên nhóm Q cầm vỏ chai bia ném, đập xuống đƣờng gây ồn ào, ầm ĩ. Cùng lúc này, lực lƣợng Công an Thị trấn T đi tuần tra đến, thấy vậy cả nhóm sợ vứt, ném số vỏ chai bia chƣa đập và dao, kiếm lại bỏ chạy. Lực lƣợng Công an Thị trấn T lập biên bản thu giữ số hung khí mà nhóm Qu vứt bỏ lại rồi tiếp tục tuần tra thì gặp V và T nên tổ công tác mời cả hai về trụ sở làm việc.

Công an Thị trấn T đã thu giữ tại hiện trƣờng.

- 01 (một) con dao tự chế dài 50cm, phần lƣỡi dao bản rộng 5cm, dài 35cm, phần lƣỡi dao sắc, nhọn, cán dao dài 15cm làm bằng gỗ đƣợc bọc sắt ở hai đầu.

- 01 (một) thanh kiếm dài 72cm bằng kim loại, phần lƣỡi rộng 3cm, dài 50cm loại một lƣỡi sắt, phần cán dài 22cm bằng gỗ bên ngoài quấn các sợi dây dạng dây dù.

- 02 (Hai) vỏ chai bia nhãn hiệu “THANH HOA”, màu nâu đỏ, kích thƣớc (24x6x2)cm, còn nguyên vẹn.

- 03 (Ba) vỏ chai bia nhãn hiệu “THABREW”, màu xanh, kích thƣớc (23x5x2)cm, còn nguyên vẹn.

- 05 (Năm) mảnh vỡ thủy tinh màu nâu đỏ, mảnh lớn nhất có kích thƣớc (8x6)cm, mảnh nhỏ nhất có kích thƣớc (1x2)cm.

- 03 (Ba) mảnh vỡ thủy tinh màu xanh, mảnh lớn nhất có kích thƣớc (9x5)cm, mảnh nhỏ nhất có kích thƣớc (5x2)cm.

Ngay sau khi nhận đƣợc báo cáo của Công an Thị Trấn Tân Phong, Cơ quan CSĐT đã phối hợp cùng Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng tiến hành khám nghiệm hiện trƣờng.

Hiện trƣờng vụ án là trục đƣờng P thuộc Tổ dân phố T, Thị trấn T, huyện Q. Trên trục đƣờng có nhiều Cơ quan hành chính Nhà nƣớc đặt trụ sở nhƣ UBND huyện Quảng Xƣơng, Ngân hàng chính sách, Cơ quan thuế, Kho bạc Nhà nƣớc…vv.

Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xƣơng đã thu giữ:

- 08 (Tám) mảnh vỡ thủy tinh dạng vỏ chai bia, màu vàng đậm, mảnh lớn nhất kích thƣớc (13x5)cm, mảnh nhỏ nhất kích thƣớc (4,5 x 2)cm.

- 08 (Tám) mảnh vỡ thủy tinh dạng vỏ chai bia, màu xanh, mảnh lớn nhất kích thƣớc (9,5x3,5)cm, mảnh nhỏ nhất kích thƣớc (5,5x1,5)cm.

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xƣơng đã trích xuất đƣợc các file video của Cửa hàng sơn JONTUN; Quán Karaoke NEW STAR, đều ở Tổ dân phố Tân Đoài, Thị Trấn Tân Phong, huyện Quảng Xƣơng. Tất cả đều đƣợc ghi vào đĩa CD. Tại Bản Kết luận giám định số 944/KL-KTHS ngày 26/02/2023, của Phòng PC09 - Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận các file video gửi giám định không bị chỉnh sửa, cắt ghép.

Quá trình điều tra Lê Nhật T đã giao nộp 01 (một) con dao dài 42cm bằng kim loại có một lƣỡi sắc, phần lƣỡi dao dài 29cm, rộng 7cm, phần cán bằng gỗ dài 13cm và 01 (một) con dao dài 27,5cm, phần lƣỡi dao sắc, mũi dao nhọn bằng kim loại màu đen dài 16cm, rộng 3cm trên có dòng chữ “COLUMBIA”, ký hiệu NO:29#, phần sống dao dạng răng cƣa, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 11,5cm. Đây là 02 con dao T sử dụng lùa đuổi đánh nhau với nhóm của Quân, Hùng

Tại Bản Kết luận giám định số 388/KL-KTHS ngày 13/01/2023, của Phòng PC09 - Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:

- 01 (một) thanh kiếm dài 72cm bằng kim loại, phần lƣỡi rộng 3cm, dài 50cm loại một lƣỡi sắt, phần cán dài 22cm bằng gỗ bên ngoài quấn các sợi dây dạng dây dù là thuộc loại vũ khí thô sơ.

- 01 (một) con dao dài 27,5cm, phần lƣỡi dao sắc, mũi dao nhọn bằng kim loại màu đen dài 16cm, rộng 3cm trên có dòng chữ “COLUMBIA”, ký hiệu NO:29#, phần sống dao dạng răng cƣa, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 11,5cm là thuộc loại vũ khí thô sơ.

- 01 (một) con dao tự chế dài 50cm, phần lƣỡi dao bản rộng 5cm, dài 35cm, phần lƣỡi dao sắc, nhọn, cán dao dài 15cm làm bằng gỗ đƣợc bọc sắt ở hai đầu là dao, không phải vũ khí.

- 01 (một) con dao dài 42cm bằng kim loại có một lƣỡi sắc, phần lƣỡi dao dài 29cm, rộng 7cm, phần cán bằng gỗ dài 13cm là dao, không phải vũ khí.

Trong vụ án này: Đối với Trần Huy H là ngƣời thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng” với vai trò tích cực. Tuy nhiên tại thời điểm vi phạm H mới đƣợc 15 tuổi, 4 tháng, 23 ngày. Căn cứ khoản 2, Điều 12 BLHS thì hành vi này của Hùng chƣa phải chịu trách nhiệm hình sự. Căn cứ theo khoản 2 điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Sửa đổi, bổ sung năm 2020); Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã lập, chuyển hồ sơ cho UBND xã Q, huyện Q đề nghị UBND xã ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với H là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, không gắn biển kiểm soát mà Đoàn Thế Minh Q sử dụng đi đánh nhau là của anh Đoàn Thế L là bố đẻ Q; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, không gắn biển kiểm soát mà Phạm Hồng T sử dụng đi đánh nhau là của bà Hoàng Thị N là bà ngoại T. Khi Q và T sử dụng những xe mô tô nói trên phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” thì anh L và bà N hoàn toàn không biết. Vì vậy, Cơ quan điều tra không tiến hành truy thu là phù hợp.

- Đối với 01 điện thoại di động của T sử dụng liên lạc đi đánh nhau sau khi sự việc xảy ra T đã làm mất; 01 điện thoại di động của T sử dụng liên lạc thách thức đánh nhau, sau khi sự việc xảy ra cần tiền T đã bán cho 01 ngƣời không quen biết trên Thành phố T; 01 điện thoại di động của H, sau khi xảy ra cần tiền H đã bán cho 01 của hàng điện thoại trên Thành Phố T, H không nhớ địa chỉ. Do đó, Cơ quan CSĐT đã không tiến hành thu giữ đƣợc.

- Đối với lái xe taxi quá trình điều tra các bị can khai nhận khi bắt taxi T bảo chở xuống Q rồi chỉ đi vào đƣờng P đến Ngã tƣ trƣớc trụ sở của chi nhánh tập đoàn Viettel thì dừng lại. Lúc này T bảo lái xe taxi chờ ở đây tý đƣa cả nhóm về. T không biết lái xe là ai, ở đâu và cũng không nói là chở đi đánh nhau. Do đó Cơ quan CSĐT không xác định đƣợc lái xe taxi để tiến hành điều tra.

* Về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

Quá trình điều tra Đoàn Thế Minh Q đã tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh đã qua sử dụng, số máy MT302LL/A; số Seri F2MXPK9JKXKN; lắp sim số 0965642989. Đây là điện thoại Q đã gọi cho T rủ đi đánh nhau. Cơ quan CSĐT đã tiến hành kiểm tra điện thoại thì phát hiện trong tài khoản zalo, mesenger, tin nhắn SMS và hình ảnh có nhiều nội dung liên quan đến hoạt động cho vay lãi nặng. Cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra mở rộng vụ án, tại Cơ quan CSĐT Q khai đã cùng với Phùng Huy H và Lê Bá Minh C cho 09 cá nhân vay tiền với lãi suất từ 3.000đ đến 4.000đ/triệu/ngày. Căn cứ vào lời khai của Quân Cơ quan CSĐT đã triệu tập làm việc với Hoàng và Chiến.

Kết quả điều tra đã xác định nhƣ sau:

Về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Phùng Huy H: Do không có công ăn việc làm ổn định, bản thân lại có tiền nên Phùng Huy Hoàng đã nảy sinh ý định cho vay với lãi suất cao để lấy tiền lãi tiêu sài cá nhân. Từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 12 năm 2022, H đã thuê Đoàn Thế Minh Q và Lê Bá Minh C với mức lƣơng 5.000.000đ/ ngƣời/ tháng để cùng thực hiện hành vi cho nhiều ngƣời trên địa bàn huyện Quảng Xƣơng và Thành phố S vay tiền với lãi suất cao. Để thực hiện hành vi phạm tội, H lập nick Zalo mang tên “Cống trúc qx” có H, Q và C trong nhóm để tiện thông báo cho nhau biết về việc khách vay tiền. H thuê nhà của chị Nguyễn Thị L làm địa điểm để giao dịch với khách vay tiền. Để cho nhiều ngƣời biết việc H cho vay tiền thì H đã in giấy thông báo cho vay tiền kèm theo số điện thoại của H rồi cùng Q, C đi rải dọc đƣờng trên địa bàn huyện Q và thành phố S để khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với H hoặc thông qua Q, C để làm thủ tục vay tiền, nếu ngƣời nào muốn vay tiền thì sẽ gọi cho H hoặc đến địa chỉ nơi H thuê ở C, Q làm thủ tục vay. Sau khi kiểm tra thông tin tên, tuổi, địa chỉ, điều kiện gia đình… H sẽ cho khách vay tùy vào điều kiện của khách và thỏa thuận cắt lãi trƣớc hoặc yêu cầu nộp lãi hàng ngày với khách. Q và C là ngƣời đƣợc Hoàng giao nhiệm vụ đi thu tiền lãi từ các khách vay.

Cụ thể: từ tháng 4/2022 đến tháng 12/2022 Phùng Huy H, Đoàn Thế Minh Q và Lê Bá Minh C cho 09 khách vay tiền nhƣ sau:

1. Hoàng cho chị Trần Thị Q vay 4 lần.

- Lần thứ 1: Ngày 30/8/2022, chị Q vay số tiền 10.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/10 triệu. Khi vay H cắt lãi trƣớc 1.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, chị Q nhận đƣợc 8.800.000đ. Còn lại 1.000.000đ tiền lãi hàng ngày Q phải đóng 20.000đ tiền lãi và 200.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Tổng chị Q đã trả đủ cho H 10.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/01 triệu/01 ngày và tƣơng ứng 146%/1 năm. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của Bộ luật dân sự (BLDS) H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 273.973đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.726.027đ tiền lãi và 200.000đ tiền phí làm hồ sơ thu trái pháp luật.

- Lần thứ 2: Ngày 02/10/2022, chị Q vay tiếp số tiền 10.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/10 triệu. Khi vay H cắt lãi trƣớc 1.000.000đ, chị Q nhận đƣợc 9.000.000đ.(lần này không viết giấy vay). Còn lại 1.000.000đ tiền lãi hàng ngày Q phải đóng 20.000đ tiền lãi và 200.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Tổng chị Q đã trả đủ cho H 10.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/01 triệu/01 ngày và tƣơng ứng 146%/1 năm. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 273.973đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.726.027đ.

- Lần thứ 3: Ngày 06/11/2022, chị Q vay số tiền 10.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/10 triệu. Khi vay H cắt lãi trƣớc 1.000.000đ, chị Q nhận đƣợc 9.000.000đ. (lần này không viết giấy vay). Còn lại 1.000.000đ tiền lãi hàng ngày Q phải đóng 20.000đ tiền lãi và 200.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Lần vay này chị Q đã trả xong cả gốc và lãi cho H vào ngày 15/12/2023. Tổng chị Q đã trả đủ cho H 10.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/01 triệu/01 ngày và tƣơng ứng 146%/1 năm. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 273.973đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.726.027đ.

- Lần thứ 4: Ngày 12/12/2022, chị Q vay số tiền 10.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/ 50 ngày/ 10 triệu tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/01 triệu/01 ngày, tƣơng ứng 146%/1 năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 1.000.000đ, chị Q nhận đƣợc 9.000.000đ.(lần này không viết giấy vay). Còn lại 1.000.000đ tiền lãi hàng ngày Q phải đóng 20.000đ tiền lãi và 200.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Tuy nhiên chị Q mới đóng 08 ngày đƣợc 1.760.000đ bao gồm cả gốc và lãi thì hành vi của H bị Cơ quan CSĐT phát hiện xử lý (ngày 20/12/2022) nên chị Q không trả nữa. Tổng cộng chị Q đã trả cho H 1.600.000đ tiền gốc và 1.160.000đ tiền lãi (tƣơng ứng với 29 ngày tiền lãi đã đóng). Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là 158.904đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là 1.001.096đ. Hiện tại chị Q còn nợ H 8.400.000đ tiền gốc.

Nhƣ vậy, H đã cho chị Q vay 04 lần với số tiền gốc là 40.000.000đ, H đã thu lãi đƣợc: 7.160.000đ. Trong đó, số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS là: 980.000đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 6.179.178đ và 200.000đ tiền phí làm hồ sơ. Tổng số tiền H thu lời bất chính là 6.379.178đ. Hiện tại chị Q còn nợ H 8.400.000đ tiền gốc chƣa trả.

2. Hoàng cho chị Viên Thị Y vay 02 lần.

- Lần thứ 1: Ngày 13/09/2022, chị Y vay số tiền 11.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/01 triệu/01 ngày, tƣơng ứng 132,714%/1 năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, chị Y còn nhận đƣợc 8.800.000đ. H ngày chị Y phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Chị Y đã trả đủ cho Hoàng 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền phí làm hồ sơ thu trái pháp luật.

- Lần thứ 2: Ngày 19/11/2022, chị Y vay số tiền 15.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 3.000.000đ/50 ngày/15 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng 146%/1 năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 3.000.000đ và 200.000đ tiền phí hồ sơ, chị Y còn nhận đƣợc 11.800.000đ và hàng ngày chị Y phải đóng 300.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Tuy nhiên chị Y mới đóng 30 ngày đƣợc 9.000.000đ tiền gốc thì hành vi của H bị Cơ quan CSĐT phát hiện xử lý (ngày 20/12/2022) nên chị Y không trả nữa. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 410.959đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 2.589.041đ tiền lãi và 200.000 tiền phí làm hồ sơ thu trái pháp luật. Hiện chị Y còn nợ H 6.000.000đ tiền gốc.

Nhƣ vậy, H cho chị Y vay 02 lần với số tiền gốc là 26.000.000đ, H đã thu lãi đƣợc: 5.000.000đ. Trong đó, số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS là: 712.329đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 4.287.671đ và 400.000đ tiền phí làm hồ sơ. Tổng số tiền H thu lời bất chính là 4.687.671đ. Hiện chị Y còn nợ H 6.000.000đ tiền gốc chƣa trả.

3. Hoàng cho anh Hồ Đức Bách vay 03 lần.

- Lần thứ 1: Ngày 25/09/2022, anh B vay số tiền 11.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng 132,714%/1 năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh B còn nhận đƣợc 8.800.000đ. H ngày anh B phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh B đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu phí làm hồ sơ trái pháp luật.

- Lần thứ 2: Ngày 03/11/2022, anh B vay số tiền 11.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng 132,714%/1 năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh B còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh B phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Lần vay này tuy chƣa đến hạn trả nợ nhƣng anh B đã trả đủ cho H cả gốc và lãi cho H vào ngày 10/12/2022. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu phí làm hồ sơ trái pháp luật.

- Lần thứ 3: Ngày 04/12/2022, anh B vay số tiền 11.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng 132,714%/1 năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh B còn nhận đƣợc 8.800.000đ. H ngày anh B phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Tuy chƣa đến hạn trả nợ nhƣng anh B đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc vào ngày 12/01/2023 và 2.000.000đ tiền lãi đã cắt trƣớc. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu phí làm hồ sơ trái pháp luật.

Nhƣ vậy, H đã cho anh B vay 03 lần với số tiền gốc là 33.000.000đ, H đã thu lãi đƣợc 6.000.000đ. Trong đó, số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS là: 904.110đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 5.095.890đ và 600.000đ tiền phí làm hồ sơ. Tổng số tiền H thu lời bất chính là: 5.695.890đ.

4. Hoàng cho chị Lê Thị Liên vay 01 lần.

Vào cuối tháng 10/2022, H cho chị L vay số tiền 15.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 3.000.000đ/50 ngày/15 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/1 triệu/ 1 ngày, tƣơng ứng 146%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 3.000.000đ và 200.000đ tiền phí hồ sơ, chị L còn nhận đƣợc 11.800.000đ và hàng ngày chị L phải đóng 300.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Tuy nhiên chị L mới đóng đƣợc 2.000.000đ tiền gốc thì hành vi của H bị Cơ quan CSĐT phát hiện xử lý nên chị L không trả nữa. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 410.959đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 2.589.041đ tiền lãi và 200.000đ tiền thu trái pháp luật. Hiện chị L còn nợ H 13.000.000đ tiền gốc chƣa trả.

5. Hoàng cho anh Nguyễn Phó H vay 2 lần.

- Lần thứ 1: Ngày 27/10/2022, anh H vay số tiền 11.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh H còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh H phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh H đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 2: Ngày 09/12/2022, anh H vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh H còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh H phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh H đã trả cho H 4.300.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật. Hiện anh H còn nợ H 6.700.000đ tiền gốc.

Nhƣ vậy, H đã cho anh H vay 02 lần với số tiền gốc là 22.000.000đ. H đã thu lãi đƣợc 4.000.000đ. Trong đó, số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS là: 602.704đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 3.397.260đ và 400.000đ tiền phí làm hồ sơ. Tổng số tiền H thu lời bất chính là: 3.797.260đ. Hiện anh H còn nợ H 6.700.000đ tiền gốc chƣa trả.

6. Hoàng cho anh Đới Sỹ Điệp vay 3 lần.

- Lần thứ 1: Cuối tháng 9/2022, anh Đ vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm . Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh Đ còn nhận đƣợc 8.800.000đ. H ngày anh Đ phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh Đ đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 2: Cuối tháng 10/2022, anh Đ vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh Đ còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh Đ phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh Đ đã trả đủ cho Hoàng 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 3: Ngày 05/12/2022, anh Đ vay số tiền 15.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 3.000.000đ/50 ngày/15 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/ 1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng 146%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 3.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh Đ còn nhận đƣợc 11.800.000đ. Hằng ngày anh Đ phải đóng 300.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh Đ đã trả cho H 5.400.000đ tiền gốc, 3.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 410.959đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 2.589.041đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật. Hiện anh Đ còn nợ H 9.600.000đ tiền gốc.

Nhƣ vậy, H đã cho anh Đ vay 03 lần với số tiền gốc là 37.000.000đ. H đã thu lãi đƣợc 7.000.000đ. Trong đó, số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS là:1.013.699đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 5.986.301đ và 600.000đ tiền phí làm hồ sơ. Tổng số tiền H thu lời bất chính là: 6.586.301đ. Hiện anh Đ còn nợ H 9.600.000đ tiền gốc chƣa trả.

7. Hoàng cho anh Lê Khả H vay 6 lần.

- Lần thứ 1: Ngày 03/04/2022, anh H vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh H còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh H phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh H đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 2: Ngày 15/05/2022, anh H vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh H còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh H phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh H đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 3: Ngày 30/06/2022, anh H vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh H còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh H phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh H đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 4: Ngày 05/08/2022, anh H vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh H còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh H phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh H đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 5: Ngày 15/09/2022, anh H vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh H còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh H phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh H đã trả đủ cho H 11.000.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 6: Ngày 09/11/2022, anh H vay số tiền 11.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 2.000.000đ/50 ngày/11 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 2.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh H còn nhận đƣợc 8.800.000đ. Hằng ngày anh H phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Đến ngày 19/12/2022 anh H đã trả cho H 9.020.000đ tiền gốc, 2.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 1.698.630đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật. Hiện anh H còn nợ H 1.980.000đ tiền gốc.

Nhƣ vậy, H đã cho anh H vay 06 lần với số tiền gốc là 66.000.000đ. H đã thu lãi đƣợc 12.000.000đ. Trong đó, số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS là: 1.808.220đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 10.191.780đ và 1.200.000đ tiền phí làm hồ sơ. Tổng số tiền Hoàng thu lời bất chính là: 11.391.780đ. Hiện anh H còn nợ H 1.980.000đ tiền gốc chƣa trả.

8. Hoàng cho anh Nguyễn Ngọc P vay 3 lần.

- Lần thứ 1: Cuối tháng 8//2022, anh P vay số tiền 20.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 4.000.000đ/50 ngày/20 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 146%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 4.000.000đ và 300.000đ phí hồ sơ, anh P còn nhận đƣợc 15.700.000đ. Hằng ngày anh P phải đóng 400.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh P đã trả đủ cho H 20.000.000đ tiền gốc, 4.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 547.945đđ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 3.452.055đ tiền lãi và 300.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 2: Khoảng tháng 10/2022, anh P vay số tiền 22.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 4.000.000đ/50 ngày/22 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 4.000.000đ và 400.000đ phí hồ sơ, anh P còn nhận đƣợc 17.600.000đ. Hằng ngày anh P phải đóng 440.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh P đã trả đủ cho H 22.000.000đ tiền gốc, 4.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 602.740đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 3.397.260đ tiền lãi và 400.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 3: Ngày 19/12/2022, anh P vay số tiền 22.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 4.000.000đ/50 ngày/22 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 3.636đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 132,714%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 4.000.000đ và 400.000đ phí hồ sơ, anh P còn nhận đƣợc 17.600.000đ. Hằng ngày anh P phải đóng 440.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh P đã trả cho H 2.200.000đ tiền gốc vào ngày 22/12/2022, 4.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 602.740đ , số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 3.397.260đ tiền lãi và 400.000 tiền thu trái pháp luật. Hiện anh P còn nợ H 19.800.000đ tiền gốc.

Nhƣ vậy, H đã cho anh P vay 03 lần với số tiền gốc là 64.000.000đ. H đã thu lãi đƣợc 12.000.000đ. Trong đó, số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS là: 1.753.425đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 10.246.575đ và 1.100.000đ tiền phí làm hồ sơ. Tổng số tiền H thu lời bất chính là: 11.346.575đ. Hiện anh P còn nợ H 19.800.000đ tiền gốc chƣa trả.

9. Hoàng cho anh Nguyễn Danh vay 2 lần.

- Lần thứ nhất: Khoảng tháng 8/2022, anh L vay số tiền 15.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 3.000.000đ/50 ngày/15 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 146%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 3.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh L còn nhận đƣợc 11.800.000đ. Hằng ngày anh P phải đóng 300.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh L đã trả đủ cho H 15.000.000đ tiền gốc, 3.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 410.959đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 2.589.041đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

- Lần thứ 2: Khoảng tháng 9/2022, anh L vay số tiền 15.000.000đ hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, với lãi suất 3.000.000đ/50 ngày/15 triệu, tƣơng ứng với lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày, tƣơng ứng với 146%/1năm. Khi vay H cắt lãi trƣớc 3.000.000đ và 200.000đ phí hồ sơ, anh L còn nhận đƣợc 11.800.000đ. Hằng ngày anh P phải đóng 300.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Đến ngày 06/12/2022 anh L đã trả cho H 5.500.000đ tiền gốc, 3.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 410.959đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 2.589.041đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật. Hiện anh L còn nợ H 9.500.000đ tiền gốc.

Nhƣ vậy, H đã cho anh L vay 02 lần với số tiền gốc là 30.000.000đ. H đã thu lãi đƣợc 6.000.000đ. Trong đó, số tiền lãi thu theo mức lãi suất vay cao nhất theo qui định của BLDS là: 821.918đ, số tiền lãi vƣợt quá mức lãi suất theo qui định của BLDS H đã thu lợi bất chính là: 5.178.082đ và 400.000đ tiền phí làm hồ sơ. Tổng số tiền H thu lời bất chính là: 5.578.082đ. Hiện anh L còn nợ Hg 9.500.000đ tiền gốc chƣa trả.

* Tổng cộng, từ tháng 4/2022 đến tháng 12/2022, H đã sử dụng số tiền 333.000.000đ cho 09 khách nêu trên vay với lãi suất từ 3.636đ đến 4.000đ/1 triệu/1ngày, tƣơng ứng với lãi suất từ 132,714%/1năm đến146%/1năm, mức lãi suất trên vƣợt quá từ 6,636 lần đến 7,3 lần so với mức lãi suất cao nhất đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trong đó, H đã thu đƣợc 62.160.000đ tiền lãi và 5.100.000đ tiền phí làm hồ sơ của khách, theo quy định của BLDS H chỉ đƣợc thu lãi tối đa là 9.008.219đ, số tiền thu lời bất chính là 53.151.781đ tiền lãi và 5.100.000đ tiền thu phí làm hồ sơ, tổng cộng H đã thu lợi bất chính là: 58.251.781đ. Hành vi của H đã cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Còn Đoàn Thế Minh Q và Lê Bá Minh C đã đƣợc Hoàng thuê giúp H cho vay, đi rải tờ rơi và thu tiền lãi nên hành vi của Q và C đồng phạm với H về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự với vai trò giúp sức.

* Về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Đoàn Thế Minh Q

Ngoài ra trong quá trình làm thuê cho Hoàng, Đoàn Thế Minh Q thấy có lợi nhuận cao nên đã nói dối bố là ông Đoàn Thế L cho 100.000.000đ để đi học nghề và mở tiệm cắt tóc rồi dùng số tiền này thực hiện hành vi cho vay lãi nặng. Từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2022 Q đã cùng Phạm Hồng T cho 12 ngƣời trên địa bàn huyện Q, Thành phố T, Thành phố Sầm Sơn vay tiền với lãi suất cao so với quy định của pháp luật, cụ thể:

1. Ngày 29/10/2022, Q cho Phạm Công Q vay với số tiền 5.000.000đ, hai bên thỏa thuận vay trong thời hạn 02 tháng. Khi vay Q cắt trƣớc 700.000đ tiền lãi của tháng đầu tiên tƣơng ứng với lãi suất 4.667đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 170,35%/năm. Q còn nhận đƣợc 4.300.000đ. Đến ngày 19/12/2022 Q bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q phát hiện nên số tiền lãi theo thoả thuận của Q với Q là 01 tháng 20 ngày tƣơng ứng số tiền 1.166.700đ. Q đã trả lãi cho Q đƣợc 01 tháng là 700.000đ, còn tiền lãi 20 ngày là 466.700đ và tiền gốc 5.000.000đ Q chƣa trả. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa của 01 tháng 20 ngày là: 136.986đ, số tiền thu lợi bất chính Q nhằm đạt đƣợc là 1.029.714đ. Thực tế Q đã thu 700.000đ, nên cần truy thu Q số tiền thu lợi bất chính 563.014đ. Hiện anh Q còn nợ Q 5.000.000đ tiền gốc chƣa trả.

2. Ngày 03/11/2022, Q cho Nguyễn Đức L vay với số tiền 10.000.000đ, hai bên thỏa thuận vay trong thời hạn 02 tháng. Khi vay Q cắt trƣớc 2.000.000đ tiền lãi của tháng đầu tiên tƣơng ứng với lãi xuất 6.667đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 170,35%/năm. L còn nhận đƣợc 8.000.000đ. Đến ngày 19/12/2022 Q bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q phát hiện nên số tiền lãi theo thoả thuận của Q với L là 01 tháng 16 ngày tƣơng ứng số tiền: 3.066.720đ. L đã trả lãi cho Q đƣợc 01 tháng là: 2.000.000đ, còn tiền lãi 16 ngày là: 1.066.720 và tiền gốc 10.000.000đ L chƣa trả. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa của 01 tháng 16 ngày là: 252.055đ, số tiền thu lợi bất chính Q nhằm đạt đƣợc là 2.814.665đ. Thực tế Q đã thu 2.000.000đ nên cần truy thu Q số tiền thu lợi bất chính đã thu là 1.747.945đ. Hiện anh L còn nợ Q 10.000.000đ tiền gốc chƣa trả.

3. Ngày 02/11/2022, Q cho Lê Nhữ M vay với số tiền 10.000.000đ, hai bên thỏa thuận vay trong thời hạn 03 tháng. Khi vay Q cắt trƣớc 2.100.000đ tiền lãi của tháng đầu tiên tƣơng ứng với lãi xuất 7.000đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 255,5%/năm và 300.000đ tiền phí hồ sơ. M còn nhận đƣợc 7.600.000đ. Đến ngày 19/12/2022 Q bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q phát hiện nên số tiền lãi theo thoả thuận của Q với M là 01 tháng 17 ngày tƣơng ứng số tiền 3.290.000đ. M đã trả lãi cho Q đƣợc 01 tháng là 2.100.000đ, còn tiền lãi 17 ngày là 1.190.000đ và tiền gốc 10.000.000đ M chƣa trả. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa của 01 tháng 17 ngày là: 257.534đ, số tiền thu lợi bất chính Q nhằm đạt đƣợc là 3.032.466đ và 300.000đ tiền thu trái pháp luật. Thực tế Q đã thu 2.400.000đ (2.100.000đ tiền lãi và 300.000đ phí làm hồ sơ) nên cần truy thu Q số tiền thu lợi bất chính đã thu là 2.142.466đ. Hiện anh M còn nợ Q 10.000.000đ tiền gốc chƣa trả

4. Ngày 04/11/2022, Q cho Lê Sỹ L vay với số tiền 6.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, trong 50 ngày. Khi vay Q cắt trƣớc 2.800.000đ tiền lãi trong 50 ngày tƣơng ứng với lãi xuất 9.333đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 340,655%/năm. M còn nhận đƣợc 3.200.000đ. Hằng ngày anh L phải đóng 120.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh L đã trả đủ cho Q 6.000.000đ tiền gốc, 2.800.000đ tiền lãi. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa là 164.384đ. Do đó Q đã thu lợi bất chính là: 2.635.616đ.

5. Ngày 18/11/2022, Q cho Vũ Đình D vay với tiền 11.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, trong 50 ngày. Khi vay Q cắt trƣớc 2.600.000đ tiền lãi trong 50 ngày tƣơng ứng với lãi xuất 4.727/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 172,536%/năm và 500.000đ tiền phí hồ sơ. D còn nhận đƣợc 7.900.000đ. Hằng ngày anh D phải đóng 220.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Anh D đã trả cho Q đƣợc 5.000.000đ tiền gốc, 2.600.000đ tiền lãi. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa là: 301.370đ, số tiền Q đã thu lợi bất chính là: 2.298.630đ tiền lãi và 500.000đ tiền phí làm hồ sơ thu trái pháp luật. Hiện anh D còn nợ Q 6.000.000đ tiền gốc chƣa trả

6. Ngày 01/11/2022, Q cho Vũ Như C vay số tiền 10.000.000đ ,hai bên thỏa thuận vay trong thời hạn 03 tháng. Khi vay Q cắt trƣớc 2.100.000đ tiền lãi của tháng đầu tiên tƣơng ứng với lãi xuất 7.000đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 255,5%/năm và 500.000đ tiền phí hồ sơ, C còn nhận đƣợc 7.400.000đ. Đến ngày 19/12/2022 Q bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q phát hiện thì Q đã thu của C đƣợc 02 tháng tiền lãi, tổng cộng là 4.200.000đ, còn tiền gốc 10.000.000đ C chƣa trả. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa của 02 tháng là 328.767đ. Do đó, Q đã thu lợi bất chính 3.871.233 tiền lãi và 500.000 tiền thu phí làm hồ sơ trái pháp luật. Hiện anh C còn nợ Q 10.000.000đ tiền gốc chƣa trả.

7. Ngày 07/11/2022 Q cho Nguyễn Thanh T vay với số tiền 6.000.000đ, hai bên thỏa thuận vay trong thời hạn 6 tháng. Khi vay Q cắt trƣớc 2.000.000đ tiền lãi của 02 tháng đầu tiên, tƣơng ứng với lãi xuất 5.556đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 203%/năm và 200.000đ tiền phí hồ sơ. T còn nhận đƣợc 3.800.000đ. Đến ngày 19/12/2022 Q bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q phát hiện thì Q đã thu của T đƣợc 02 tháng tiền lãi, tổng cộng là 2.000.000đ, còn tiền gốc 6..000.000đ Toàn chƣa trả. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa của 02 tháng là: 197.260đ. Do đó, Q đã thu lợi bất chính 1.802.740đ tiền lãi và 200.000 tiền thu phí làm hồ sơ trái pháp luật. Hiện anh T còn nợ Q 6.000.000đ tiền gốc chƣa trả

8. Ngày 29/10/2022 Q cho Nguyễn Trọng L vay với số tiền 3.500.000đ, hai bên thỏa thuận vay trong thời hạn 02 tháng. Khi vay Q cắt trƣớc 1.800.000đ tiền lãi của 02 tháng đầu tiên tƣơng ứng với lãi xuất 8.571đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 312,842%/năm và 200.000đ tiền phí hồ sơ. L còn nhận đƣợc 1.500.000đ. Đến ngày 13/12/2022, (01 tháng 14 ngày) L đã trả hết tiền gốc cho Q, nên Q trả lại cho L 500.000đ tiền lãi tƣơng đƣơng 16 ngày tiền lãi. Nhƣ vậy, Q cho L vay số tiền 3.500.000đ, Q thu đƣợc 1.300.000đ tiền lãi tƣơng ứng với lãi xuất 8.442đ/1 ngày/1 triệu và 200.000đ tiền phí hồ sơ. Mà theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa là 84.384đ. Do đó, Q đã thu lợi bất chính 1.215.616đ tiền lãi và 200.000 tiền thu trái pháp luật.

9. Ngày 02/11/2022, Q cho Nguyễn Văn T vay với số tiền 5.000.000đ, hai bên thỏa thuận vay trong thời hạn 02 tháng . Khi vay Q cắt trƣớc 800.000đ tiền lãi của tháng đầu tiên tƣơng ứng với lãi xuất 5.333đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 195%/năm . T còn nhận đƣợc 4.200.000đ. Nhƣng đến ngày 02/12/2022 (01 tháng) T đã trả đủ 5.000.000đ tiền gốc cho Q. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa là 82.192đ. Do đó, Q đã thu lợi bất chính 717.808đ.

10. Ngày 01/11/2022, Q cho Nguyễn Xuân M vay số tiền 3.000.000đ, khi vay Quân cắt trƣớc 900.000đ tiền lãi của 02 tháng đầu tiên tƣơng ứng với lãi xuất 5.000đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 182,5%/năm và 200.000đ tiền phí hồ sơ, M còn nhận đƣợc 1.900.000đ. Đến ngày 19/12/2022 Q bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q phát hiện thì Q đã thu của M đƣợc 02 tháng tiền lãi, tổng cộng là 900.000đ, còn tiền gốc 3.000.000đ M chƣa trả. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa của 02 tháng là 98.630đ. Do đó, Q đã thu lợi bất chính 801.370đ tiền lãi và 200.000 tiền thu phí làm hồ sơ trái pháp luật. Hiện M còn nợ Q 3.000.000đ tiền gốc.

11. Ngày 07/11/2022, Q cho Nguyễn Thị Y vay với số tiền 10.000.000đ, hai bên thỏa thuận trả góp theo ngày, trong 50 ngày. Khi vay Q cắt trƣớc 2.500.000đ tiền lãi trong 50 ngày tƣơng ứng với lãi xuất 5.000đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 182,5%/năm. Y còn nhận đƣợc 7.500.000đ. Hằng ngày Y phải đóng 200.000đ tiền gốc trong 50 ngày. Sau đó Y đã trả cho Q 10.000.000đ tiền gốc, 2.500.000đ tiền lãi. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa là 273.973đ. Do đó, Q đã thu lợi bất chính 2.226.027đ.

12. Ngày 10/11/2022, Q cho Lê Bá N vay với số tiền 10.000.000đ, khi vay Q cắt trƣớc 1.500.000đ tiền lãi của tháng đầu tiên tƣơng ứng với lãi xuất 5.000đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng 182,5%/năm. N còn nhận đƣợc 8.500.000đ. Đến ngày 08/12/2022 N đã trả 10.000.000đ tiền gốc cho Quân. Nhƣ vậy, theo quy định của BLDS Q chỉ đƣợc thu lãi tối đa là 164.384đ. Do đó Q đã thu lợi bất chính 1.335.616đ.

* Tổng cộng, từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2022, Q đã sử dụng số tiền 89.500.000đ cho 12 khách vay với lãi suất từ 4.667đ đến 9.333đ/1 ngày/1 triệu, tƣơng ứng với mức lãi suất từ 170,35%/năm đến 340,655%/năm, mức lãi suất này vƣợt quá từ 8,517 lần đến 17,033 lần so với mức lãi suất cao nhất đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Tổng cộng tính đến thời điểm phát hiện tội phạm (ngày 19/12/2022) Q đã nhằm thu lãi với số tiền là: 26.123.420đ và 1.900.000đ tiền phí làm hồ sơ của khách. Nhƣng theo quy định của BLDS Quân chỉ đƣợc thu lãi tối đa là 2.341.918đ. Do đó tổng cộng Q đã nhằm thu lợi bất chính 25.681.502đ, bao gồm 23.781.502đ tiền lãi và 1.900.000đ tiền thu phí làm hồ sơ trái pháp luật.Tuy nhiên thực tế Q đã thu đƣợc 25.300.000đ (bao gồm 23.400.000đ tiền lãi và 1.900.000đ tiền thu trái pháp luật). Sau khi trừ đi số tiền lãi tƣơng ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự thì Q đã thu lợi bất chính số tiền 22.958.082đ.

Nhƣ vậy, Đoàn Thế Minh Q ngoài chịu trách nhiệm hình sự trong việc giúp Phùng Huy Hoàng cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thu lợi bất chính 58.251.781đ, còn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tự mình cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi là 25.681.502đ. Do đó, tổng cộng Q phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự với tổng số tiền thu lợi bất chính là 83.933.283đ.

* Đối với hành vi của Phạm Hồng T giúp Q cho khách vay để Q nhằm thu lợi bất chính số tiền là 25.681.502đ (T chỉ giúp Q cho khách vay bằng nguồn tiền của Q, T không đƣợc hƣởng lợi), số tiền chƣa đủ số tiền thu lợi bất chính trên 30.000.000đ theo quy định và nhân thân T chƣa có tiền án, tiền sự về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Vì vậy, chƣa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

* Trong vụ án này: Đối với hành vi của chị Nguyễn Thị L cho Phùng Huy H thuê nhà sử dụng làm địa điểm kinh doanh dịch vụ cầm đồ nhƣng không đƣợc cấp phép, sau đó H sử dụng làm địa điểm để giao dịch cho khách vay tiền. Tuy nhiên, chị L không biết H sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của ông Đoàn Thế L khi cho Q số tiền 100.000.000đ để Q học nghề và mở tiệm cắt tóc. Ông L không biết Quân sử dụng số tiền này để thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, thu lời bất chính. Nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Tại bản cáo trạng số 25/CTr-VKSQX ngày 31 tháng 3 năm 2023 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Q, tỉnh Thanh Hoá truy tè Đoàn Thế Minh Q, Lê Tuấn V, Phạm Hồng T, Lê Nhật T, Lê Văn C, Mai Xuân Kh, Trịnh Duy L, Nguyễn Ngọc T, Lê Nguyễn Hoàng N, Lê Hoàng S về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b kho¶n 2 §iÒu 318 Bé luËt h×nh sù. Truy tố Phùng Huy H, Đoàn Thế Minh Q, Lê Bá Minh C về tội về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. T¹i phiªn tßa ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nhân dân huyện Q, tỉnh Thanh Hoá luËn téi vÉn gi÷ nguyªn quyÕt ®Þnh truy tè các bÞ c¸o, ®ång thêi ®Ò nghÞ héi ®ång xÐt xö ¸p dông

1. Đoàn Thế Minh Q: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; khoản 1 Điều 201; Điều 36; ®iÓm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 2 Điều 100; Điều 103 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 15 đến 17 tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng” và 07 đến 08 tháng tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, qui đổi thời gian cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù để tổng hợp hình phạt. Do bị cáo phạm tội đang ở tuổi chƣa thành niên, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo không phải khấu trừ thu nhập

2. Lê Nhật T: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 15 đến 17 tháng tï.

3. Lê Tuấn V: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 13 đến 15 tháng tù.

4. Mai Xuân K: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 13 đến 15 tháng tï.

5. Trịnh Duy L: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 13 đến 15 tháng tï.

6. Nguyễn Ngọc T: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 24 đến 26 tháng tï

7. Lê Nguyễn Hoàng N: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1,2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 24 đến 26 tháng tï.

8. Phạm Hồng T: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS; khoản 4 Điều 328 BLTTHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 13 đến 15 tháng tï, nhƣng cho hƣởng án treo.

9. Lê Văn C: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1,2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS; khoản 4 Điều 328 BLTTHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 13 đến 15 tháng tï, nhƣng cho hƣởng án treo..

10. Lê Hoàng S: điểm b kho¶n 2 §iÒu 318; ®iÓm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 24 đến 26 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo.

11. Phùng Huy H: Khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 35; Điều 36 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 14 đến 16 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo từ 40.000.000đ đến 45.000.000đ. Bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo

12. Lê Bá Minh C: Khoản1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 35; Điều 36 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 14 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ. Bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo

+ Về vật chứng trong tội “gây rối trật tự công cộng” gồm: 02 vỏ chai bia nhãn hiệu “THANH HOA”; 03 vỏ chai bia nhãn hiệu “THABREW”, màu xanh; 05 mảnh vỡ thủy tinh màu nâu đỏ; 03 mảnh vỡ thủy tinh màu xanh; 08 mảnh vỡ thủy tinh dạng vỏ chai bia, màu vàng đậm; 08 mảnh vỡ thủy tinh dạng vỏ chai bia, màu xanh; 01 con dao tự chế dài 50cm; 01 thanh kiếm dài 72cm bằng kim loại; 01 con dao dài 42cm bằng kim loại; 01 con dao dài 27,5cm không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

+ Về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

- Vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh đã qua sử dụng, số máy MT302LL/A; số Seri F2MXPK9JKXKN thu của Đoàn Thế Minh Quân là phƣơng tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc.

- Biện pháp tƣ pháp: Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền của những ngƣời vay chƣa trả cho Phùng Huy H bao gồm: chị Trần Thị Q 8.400.000đ; chị Viên Thị Y 6.000.000đ; chị Lê Thị L 13.000.000đ; anh Nguyễn Danh L 9.500.000đ; anh Nguyễn Phó H 6.700.000đ; anh Đới Sỹ Đ 9.600.000đ; anh Lê Khả H 1.980.000đ; anh Nguyễn Ngọc P 19.800.000đ.

- Buộc Phùng Huy H trả lại tiền thu lợi bất chính cho những ngƣời vay bao gồm: chị Trần Thị Q 6.379.178đ; chị Viên Thị Y 4.687.671đ; anh Hồ Đức B 5.695.890đ; chị Lê Thị L 2.789.041đ; anh Nguyễn Danh L 3.797.260đ; anh Nguyễn Phó H 2.902.740đ; anh Đới Sỹ Đ 6.586.301đ; Lê Khả H 11.391.781đ; anh Nguyễn Ngọc P 11.346.575đ.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 258.020.000đ (đã trừ đi số tiền những ngƣời vay chƣa trả) của Phùng Huy H sử dụng vào việc cho vay lãi nặng và 9.008.219đ tiền lãi mà H đã thu theo quy định. Tổng cộng 267.028.219đ.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền của những ngƣời vay chƣa trả cho Đoàn Thế Minh Q bao gồm: anh Phạm Công Q 5.000.000đ; anh Nguyễn Đức L 10.000.000đ; anh Lê Nhữ M 10.000.000đ; anh Vũ Đình D 6.000.000đ; anh Vũ Nhƣ C 10.000.000đ; anh Nguyễn Thanh T 6.000.000đ; anh Nguyễn Xuân M 3.000.000đ.

- Buộc Đoàn Thế Minh Qu trả lại tiền thu lợi bất chính cho những ngƣời vay bao gồm: anh Phạm Công Q 617.808đ; anh Nguyễn Đức Lâm 1.835.616đ; anh Lê Nhữ M 2.235.616đ; anh Lê Sỹ L 2.635.616đ; anh Vũ Đình D 2.798.630đ; anh Vũ Nhƣ C 4.371.233đ; anh Nguyễn Thanh T 2.002.740đ; anh Nguyễn Trọng L 1.415.616đ; Nguyễn Văn T 717.808đ; anh Nguyễn Xuân M 1.001.370đ; chị Nguyễn Thị Y 2.226.027đ; anh Lê Bá N 1.335.616đ.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc số tiền 39.500.000đ (đã trừ đi số tiền những ngƣời vay chƣa trả) của Đoàn Thế Minh Q sử dụng vào việc cho vay lãi nặng và 2.341.918đ tiền lãi mà Quân đã thu theo quy định.

+ Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật

*Tại phiên tòa phần tranh luận ngƣời bào chữa cho các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” đều có chung ý kiến: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng ngƣời, đúng tội. Về đánh giá mức độ hành vi phạm tội, đánh giá vai trò của các bị cáo cũng nhƣ áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo là hoàn toàn phù hợp.

- Luật sƣ bào chữa cho bị cáo Trịnh Duy L: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, cũng nhƣ mức độ hành vi phạm tội, bị cáo chỉ tham gia với vai trò giúp sức và là ngƣời chƣa thành niên, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

- Luật sƣ bào chữa cho bị cáo Mai Xuân Kh: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Khánh, chỉ tham gia với vai trò giúp sức, phạm tội khi chƣa đủ tuổi thành niên, nhận thức hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo ở mức thấp nhất.

- Luật sƣ bào chữa cho bị cáo Lê Văn C và bị cáo Lê Nhật T: Các bị cáo khi phạm tội đang ở độ tuổi chƣa thành niên, nhận thức còn hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt và xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo và cho các bị cáo đƣợc hƣởng án treo.

- Ngƣời bào chữa cho các bị cáo Phạm Hồng T, Lê Tuấn V, Đoàn Thế Minh Q: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo khi phạm tội đang ở độ tuổi chƣa thành niên, nhận thức còn hạn chế, xem xét mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.

*Tại phiên tòa những ngƣời đại diện hợp pháp cho các bị cáo có mặt đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo và đề nghị xét xử theo qui định của pháp luật.

Các bÞ c¸o thõa nhËn toµn bé hµnh vi ph¹m téi vµ kh«ng tranh luËn g× víi ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t. Lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử gi¶m nhÑ h×nh ph¹t cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng:Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên toà hôm nay: Lêi khai cña c¸c bị thèng nhÊt víi lêi khai t¹i c¬ quan ®iÒu tra, phï hîp víi b¸o c¸o và lời khai của ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cïng c¸c tµi liệu, chứng cứ kh¸c đƣợc thu thập ph¶n ¸nh trong hå sơ:

* Đối với hành vi Gây rối trật tự công cộng

Đủ cơ sở chứng minh: Do thách thức nhau nên vào khoảng 21h00’ ngày 09/12/2022, trên trục đƣờng P nơi có nhiều trụ sở của các cơ quan hành chính nhà nƣớc, thuộc Tổ dân phố T, Thị Trấn T, huyện Quảng Xƣơng. Lê Nhật T, Lê Hoàng S, Lê Văn C, Mai Xuân K, Trịnh Duy L, Nguyễn Ngọc T, Lê Nguyễn Hoàng N, Đoàn Thế Minh Q, Lê Tuấn V, Phạm Hồng T đã có hành vi sử dụng dao, kiếm, gạch, đá, vỏ chai bia lùa đuổi đánh, ném nhau. Quá trình lùa đuổi các đối tƣợng hô hào, nẹt bô trêu ngƣơi, thách thức nhau, đập, ném vỏ chai bia gây náo loạn, ồn ào khu phố, làm mất trật tự an ninh. Nên tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Đoàn Thế Minh Q, Lê Tuấn V, Phạm Hồng T, Lê Nhật T, Lê Văn C, Mai Xuân K, Trịnh Duy L, Nguyễn Ngọc T, Lê Nguyễn Hoàng N, Lê Hoàng S về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có căn cứ, phù hợp với qui định của pháp luật. Héi ®ång xÐt xö cã ®ñ c¬ së kÕt luËn: Hµnh vi ph¹m téi cña các bị cáo Đoàn Thế Minh Q, Lê Tuấn V, Phạm Hồng T, Lê Nhật T, Lê Văn C, Mai Xuân K, Trịnh Duy L, Nguyễn Ngọc T, Lê Nguyễn Hoàng N, Lê Hoàng S có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Do các bị cáo sử dụng sử dụng dao, kiếm, gạch, đá, vỏ chai bia lùa đuổi đánh, ném nhau gây rối trật tự công cộng, do vËy các bÞ c¸o ph¶i chÞu chung t×nh tiÕt ®ịnh khung là "dùng hung khí" và phải chịu trách nhiệm hình sự đƣợc qui định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.

* Đối với hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

Đủ cơ sở chứng minh: Xuất phát từ động cơ tƣ lợi, trong khoảng thời gian từ tháng 04/2022 đến tháng 12/2022, Phùng Huy H, Đoàn Thế Minh Q và Lê Bá Minh C đã sử dụng tiền của Phùng Huy H cho 09 ngƣời trên địa bàn huyện Qu và Thành phố S vay tiền với mức lãi suất từ 132,714%/1năm đến 146%/1năm, mức lãi suất trên vƣợt quá từ 6,636 lần đến 7,3 lần so với mức lãi suất cao nhất đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Thu lợi bất chính 58.251.781đ.

Ngoài ra, Đoàn Thế Minh Q còn tự mình sử dụng tiền cho 12 ngƣời trên địa bàn huyện Quảng Xƣơng, Thành phố S và Thành phố T vay với lãi suất từ 170,35%/năm đến 340,655%/năm, mức lãi suất này vƣợt quá từ 8,517 lần đến 17,033 lần so với mức lãi suất cao nhất đƣợc quy định tại khoản 1, Điều 468 Bộ luật dân sự, nhằm thu lợi bất chính 25.681.502đ. Nhƣ vậy, Đoàn Thế Minh Q ngoài chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tự mình cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi là 25.681.502đ còn phải chịu trách nhiệm hình sự trong việc giúp Phùng Huy H cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thu lợi bất chính 58.251.781đ. Do đó, tổng cộng Q phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự với tổng số tiền thu lợi bất chính là 83.933.283đ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Phùng Huy H, Đoàn Thế Minh Q và Lê Bá Minh C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Phùng Huy H, Đoàn Thế Minh Q và Lê Bá Minh C có đầy đủ dấu hiệu của tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt đƣợc qui định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

.VÒ tÝnh chÊt vô ¸n:

.Trong vụ án Gây rối trật tự công cộng có nhiều bị cáo tham gia, có bị cáo đã thành niên, có bị cáo đang ở tuổi chƣa thành niên và cƣ trú ở nhiều nơi khác nhau, bản thân các bị cáo đều là những đối tƣợng thiếu sự thƣờng xuyên quan tâm, giám sát, giáo dục của gia đình, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân các bị cáo đã tụ tập nhau sử dụng dao, kiếm, gạch, đá, vỏ chai bia lùa đuổi đánh, ném nhau, quá trình lùa đuổi các đối tƣợng hô hào, nẹt bô trêu ngƣơi, thách thức nhau, đập, ném vỏ chai bia gây náo loạn, ồn ào khu phố, làm mất trật tự an ninh thuộc địa bàn Tổ dân phố Tâ, Thị Trấn T, huyện Q. Hành vi của các bị cáo thể sự liều lĩnh, xem thƣờng pháp luật, ®· trùc tiÕp x©m ph¹m trËt tù c«ng céng, nÕp sèng v¨n minh, quy t¾c sèng x· héi chñ nghÜa, lµm ¶nh h ëng ®Õn ho¹t ®éng b×nh th êng cña mäi ngƣời dân ë n¬i c«ng céng, gây ảnh hƣởng và làm mất trật tự trị an tại địa phƣơng, g©y d luËn xÊu vµ bÊt b×nh trong quÇn chóng nh©n d©n, lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, do ®ã ph¶i ® îc xö lý nghiªm minh.

.Trong vụ án vay lãi nặng trong giao dịch dân sự: các bị cáo đã lợi dụng nhu cầu cần vay tiền của ngƣời dân một cách nhanh nhất mà không cần thế chấp và không phải thực hiện các thủ tục gì, đã cho vay với lãi suất cao từ 132,714%/1năm đến 146%/1năm, mức lãi suất trên vƣợt quá từ 6,636 lần đến 7,3 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự và từ 170,35%/năm đến 340,655%/năm, mức lãi suất này vƣợt quá từ 8,517 lần đến 17,033 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, nhằm thu lời bất chính. Hành vi của các bị cáo đã x©m ph¹m trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây ảnh hƣởng xấu đến an ninh trật tự, lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, do ®ã ph¶i ® îc xö lý nghiªm minh.

.Về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong tội Gây rối trật tự công cộng: Trong vô ¸n nµy c¸c bÞ c¸o thực hiện hành vi d íi h×nh thøc ®ång ph¹m giản đơn, kh«ng cã sù bµn b¹c, ph©n c«ng vai trß cô thÓ với nhau từ trƣớc, khi có ngƣời thách thức thì tất cả rủ nhau đồng ý tham gia và tự hiểu ý nhau cùng thực hiện hành vi phạm tội.

.Các bị cáo Đoàn Thế Minh Q, Lê Nhật T đều là những ngƣời khởi xƣớng hẹn đánh nhau, rủ thêm các đối tƣợng khác cùng tham gia, bị cáo Q điều khiển xe mô tô, bị cáo T trực tiếp sử dụng dao và đều là ngƣời thực hành tích cực, hô hào lùa đuổi nẹt bô trêu ngƣơi thách thức đánh nhau nên có vai trò thứ nhất ngang nhau trong vụ án. Các bị cáo Phạm Hồng T, Lê Tuấn Vlà những ngƣời sử dụng dao; bị cáo Nguyễn Ngọc T, Lê Nguyễn Hoàng N, Lê Hoàng S, Lê Văn C, Mai Xuân K, Trịnh Duy L sử dụng gạch đá là hung khí nguy hiểm thực hiện hành vi lùa đuổi, chửi bới, đạp ném gạch, vỏ chai bia, nên có vai trò thứ hai ngang nhau trong vụ án.

. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều có chung tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo đƣợc qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Đoàn Thế Minh Q, Phạm Hồng T, Trịnh Duy L đều có đơn trình bầy hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phƣơng). Bị cáo Lê Hoàng S có bà nội là ngƣời có công với cách mạng đƣợc Chủ tịch nƣớc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bố mất sớm do bệnh hiểm nghèo, bản thân là lao động chính (có xác nhận của chính quyền địa phƣơng). Bị cáo Lê Văn C có bà ngoại là ngƣời có công với cách mạng đƣợc Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa tặng Bằng khen do có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc, gia đình hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo (có sổ theo dõi). Bị cáo Lê Nguyễn Hoàng N có ông nội là Liệt sỹ. Bị cáo Lê Nhật T có ông nội đƣợc tặng bằng khen trong kháng chiến chống Pháp. Bị cáo Mai Xuân K có ông ngoại là liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo đƣợc qui định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

. Nhƣ đánh giá ở trên cũng nhƣ xét tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Q, T tuy khi phạm tội chƣa đủ tuổi thành niên nhƣng tham gia với vai trò thứ nhất ( bị cáo T có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt hành chính). Các bị cáo N, T, K, L, V tuy xếp vai trò thứ hai, nhƣng bị cáo N, T khi phạm tội đã đủ tuổi thành niên, có đầy đủ nhận thức về hành vi của mình. Bị cáo K, L, V khi phạm tội chƣa đủ tuổi thành niên nhƣng các bị cáo đều có nhân thân xấu đều từng bị xử lý hành chính.Vì vậy, việc cách ly các bị cáo Q, T, N, T, K, L, V khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo giáo dục các bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo một phần vì thành khẩn khai báo đƣợc qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo Q, N, L, T, K đƣợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

. Đối với bị cáo T, C, S cả 03 tham gia vai trò thứ hai, trong đó các bị cáo T, C thực hiện hành vi phạm tội khi chƣa thành niên, bị cáo S đã thành niên nhƣng có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhƣ nêu ở phần trên. Xét thấy cả 03 bị cáo đều chƣa tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, đều có nơi cƣ trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vì vậy nghĩ nên chƣa cần thiết phải cách ly các bị cáo T, C, S khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 65 BLHS cho các bị cáo đƣợc hƣởng án treo, cải tạo tại địa phƣơng dƣới sự giám sát của chính quyền, để các bị cáo thấy đƣợc sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội.

. Các bị cáo Q, T, V, T, C, K, L ngày phạm tội chƣa thành niên, nên áp dụng Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS ®Ó xem xÐt khi quyÕt ®Þnh h×nh ph¹t ®èi víi các bÞ c¸o.

.Về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong tội Vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

.Bị cáo Phùng Huy H là ngƣời sử dụng tiền và thuê Đoàn Thế Minh Q và Lê Bá Minh C thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nên giữ vai trò thứ nhất. Đoàn Thế Minh Q ngoài việc giúp H thực hiện hành vi cho vay lãi nặng còn tự mình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nên xếp Q giữ vai trò ngang với H. Lê Bá Minh C giúp H thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nên giữ vai trò thứ hai.

. Cả 03 bị cáo là ngƣời cã nhËn thøc, nhƣng cũng chỉ vì muốn kiếm tiền một cách nhanh nhất mà không phải bỏ công sức lao động của mình đã thực hiện hành vi cho vay tiền với lãi suất cao để thu lời bất chính, dẫn đến phạm tội. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, cả 03 bị cáo có chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo đƣợc qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo H và bị cáo C có chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng đƣợc qui định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo Ch có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có mẹ đẻ đƣợc UBND tỉnh Thanh Hóa tặng Bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong công tác hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh và điều trị bệnh nhân Covid 19 đƣợc qui định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

. Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng, nên áp dụng Điều 36 BLHS phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Q, H, C là phù hợp. Khi xem xét quyết định mức hình phạt cần xem xét vai trò, mức độ hành vi phạm tội, số tiền thu lời bất chính và các tình tiết giảm nhẹ để có mức án cho phù hợp cho từng bị cáo, tƣơng xứng với hành vi phạm tội.

. VÒ hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội mang tính chất vụ lợi, nên áp dụng khoản 3 Điều 201 BLHS phạt tiền cáo H 40.000.000đ; bị cáo C 30.000.000đ là phù hợp. Riêng bị cáo Q khi phạm tội chƣa đủ 18 tuổi, không có tài sản riêng, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo H, C là lao động tự do, công ăn việc làm không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo; Bị cáo Q áp dụng khoản 2 Điều 100 BLHS không khấu trừ thu nhập.

. Trong vụ án này đối với bị cáo Q phạm 02 tội, nên áp dụng Điều 55, Điều 103 của BLHS để tổng hợp hình phạt.

. Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp

. Về vật chứng trong tội “Gây rối trật tự công cộng” gồm: 02 vỏ chai bia nhãn hiệu “THANH HOA”; 03 vỏ chai bia nhãn hiệu “THABREW”, màu xanh; 05 mảnh vỡ thủy tinh màu nâu đỏ; 03 mảnh vỡ thủy tinh màu xanh; 08 mảnh vỡ thủy tinh dạng vỏ chai bia, màu vàng đậm; 08 mảnh vỡ thủy tinh dạng vỏ chai bia, màu xanh; 01 con dao tự chế dài 50cm; 01 thanh kiếm dài 72cm bằng kim loại; 01 con dao dài 42cm bằng kim loại; 01 con dao dài 27,5cm không có giá trị sử dụng, đây là công cụ phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy (Tang vật hiện đang lƣu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng xƣơng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2023)

. Đối với tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

+ Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh đã qua sử dụng, số máy MT302LL/A; số Seri F2MXPK9JKXKN thu của Đoàn Thế Minh Q đây là phƣơng tiện phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nƣớc. (Tang vật hiện đang lƣu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng xƣơng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày17/4/2023)

+ Biện pháp tƣ pháp đối với Phùng Huy H

- Đối với số tiền nợ gốc mà ngƣời vay chƣa trả hết cho Phùng Huy H bao gồm: chị Trần Thị Q 8.400.000đ; chị Viên Thị Y 6.000.000đ; chị Lê Thị L 13.000.000đ; anh Nguyễn Danh L 9.500.000đ; anh Nguyễn Phó H 6.700.000đ; anh Đới Sỹ Đ 9.600.000đ; anh Lê Khả H 1.980.000đ; anh Nguyễn Ngọc P 19.800.000đ. Đây là số tiền của Hoàng dùng vào việc phạm tội, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS nên cần buộc chị Q, chị Y, chị L, anh L, anh H, anh Đ, anh H, anh P phải nộp lại số tiền nợ trên để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc.

- Đối với số tiền gốc H cho vay và đã thu lại của những ngƣời vay số tiền là 258.020.000đ (đã trừ đi số tiền những ngƣời vay chƣa trả), đây là tiền H sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS cần truy thu của H để sung nộp ngân sách Nhà nƣớc.

- Đối với số tiền 9.008.219đ tiền lãi mà H đã thu theo quy định tƣơng ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, tuy không bị tính xác định trách nhiệm hình sự nhƣng là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần truy thu của H để sung nộp ngân sách Nhà nƣớc.

- Đối với số tiền H đã thu lãi của ngƣời vay vƣợt quá quy định của Bộ luật Dân sự, gồm: chị Trần Thị Q 6.379.178đ; chị Viên Thị Y 4.687.671đ; anh Hồ Đức B 5.695.890đ; chị Lê Thị L 2.789.041đ; anh Nguyễn Danh L 3.797.260đ; anh Nguyễn Phó H 2.902.740đ; anh Đới Sỹ Đ 6.586.301đ; Lê Khả H 11.391.781đ; anh Nguyễn Ngọc P 11.346.575đ. Quá trình điều tra xác định những ngƣời này đều sử dụng tiền vay vào mục đích cá nhân hợp pháp. Đây là khoản tiền H thu lời bất chính của những ngƣời vay, áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS cần buộc H phải trả lại số tiền trên cho những ngƣời vay trên.

+ Biện pháp tƣ pháp đối với Đoàn Thế Minh Q

- Đối với số tiền nợ gốc mà ngƣời vay chƣa trả hết cho Q bao gồm: anh Phạm Công Q 5.000.000đ; anh Nguyễn Đức L 10.000.000đ; anh Lê Nhữ M 10.000.000đ; anh Vũ Đình D 6.000.000đ; anh Vũ Nhƣ C 10.000.000đ; anh Nguyễn Thanh T 6.000.000đ; anh Nguyễn Xuân M 3.000.000đ. Đây là số tiền của Q dùng vào việc phạm tội, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS cần buộc anh Q, anh L, anh M, anh D, anh C, anh T, anh M phải nộp lại số tiền nợ trên để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc.

- Đối với số tiền gốc Q cho vay và đã thu lại của những ngƣời vay số tiền là 39.500.000đ (đã trừ đi số tiền những ngƣời vay chƣa trả), đây là tiền Q sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS cần truy thu của Q để sung nộp ngân sách Nhà nƣớc.

- Đối với số tiền 2.341.918đ tiền lãi mà Q đã thu theo quy định tƣơng ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, tuy không bị tính xác định trách nhiệm hình sự nhƣng là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần truy thu của Q để sung nộp ngân sách Nhà nƣớc.

- Đối với số tiền Q đã thu lãi của ngƣời vay vƣợt quá quy định của Bộ luật Dân sự, gồm: anh Phạm Công Q 617.808đ; anh Nguyễn Đức L 1.835.616đ; anh Lê Nhữ M 2.235.616đ; anh Lê Sỹ L 2.635.616đ; anh Vũ Đình D 2.798.630đ; anh Vũ Nhƣ C 4.371.233đ; anh Nguyễn Thanh T 2.002.740đ; anh Nguyễn Trọng L 1.415.616đ; Nguyễn Văn T 717.808đ; anh Nguyễn Xuân M 1.001.370đ; chị Nguyễn Thị Y 2.226.027đ; anh Lê Bá N 1.335.616đ. Quá trình điều tra xác định những ngƣời này đều sử dụng tiền vay vào mục đích cá nhân hợp pháp. Đây là khoản tiền Q thu lời bất chính của những ngƣời vay, áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS cần buộc Q phải trả lại số tiền trên cho những ngƣời vay trên.

.VÒ ¸n phÝ: C¸c bÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo qui ®Þnh cña ph¸p luËt.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 BLHS (đối với các bị cáo Q, V, T, K, L, T, C, T, N, S); Khoản 2 Điều 51 BLHS (đối với bị cáo Q, T, K, L, T, C, N, S); Điều 38 BLHS (đối với bị cáo Q, V, Thành, K, L, T, N); khoản 1,2 Điều 65 BLHS (đối với bị cáo T, C, S); Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS (đối với bị cáo Q, V, T, K, L, T, C); Khoản 4 Điều 328 BLTTHS (đối với C, T).

- Căn cứ: khoản 1, 3 Điều 201 BLHS (đối với bị cáo H, C); Khoản 1 Điều 201 BLHS (đối bị cáo Q); điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS (đối với bị cáo Q, H, C); điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS (đối với bị cáo H, C); khoản 2 Điều 51 BLHS (đối với bị cáo C); khoản 2 Điều 35 BLHS (đối với bị cáo H, C); Điều 36 BLHS (đối với bị cáo Q, H, C); Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 55; khoản 2 Điều 100; Điều 103 BLHS (đối với bị cáo Q)

- Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyªn bè: Đoàn Thế Minh Q, Lê Tuấn V, Phạm Hồng T, Lê Nhật T, Lê Văn C, Mai Xuân K, Trịnh Duy L, Nguyễn Ngọc T, Lê Nguyễn Hoàng N, Lê Hoàng S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Phùng Huy H, Đoàn Thế Minh Q, Lê Bá Minh C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

1. Xử phạt: Đoàn Thế Minh Q 15 (mƣời lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” , (qui đổi 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ bằng 02 tháng 10 ngày tù).Tổng hợp với hình phạt của 02 tội là: 17 (mƣời bảy) tháng 10 (mƣời) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2022.

2. Xử phạt: Lê Nhật T 15 (mƣời lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2022.

3. Xử phạt: Lê Tuấn V 13 (mƣời ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính tù từ ngày 16/12/2022.

4. Xử phạt: Mai Xuân K 13 (mƣời ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 16/12/2022.

5. Xử phạt: Trịnh Duy Linh 13 (mƣời ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2022.

6. Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 24 (hai bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 23/12/2022.

7. Xử phạt: Lê Nguyễn Hoàng N 24 (hai bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2022.

8. Xử phạt: Phạm Hồng T 13(mƣời ba) tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên trả tự do cho bị cáo Phạm Hồng T tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác

9. Xử phạt: Lê Văn C 13(mƣời ba) tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên trả tự do cho bị cáo Lê Văn C tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác

10. Xử phạt: Lê Hoàng S 24 (hai bốn) tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Hồng T cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Trạch, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lê Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Lộc Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lê Hoàng S cho Ủy ban nhân dân phƣờng An Hƣng, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hƣởng án treo theo qui định tại khoản 5 Điều 65 BLHS.

11. Xử phạt: Phùng Huy H 14 (mƣời bốn) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa nhận đƣợc quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn Tân, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo cƣ trú giám sát, giáo dục bị cáo trrong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

12. Xử phạt: Lê Bá Minh C 10 (mƣời) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa nhận đƣợc quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo cƣ trú giám sát, giáo dục bị cáo trrong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

* Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Phùng Huy Hg 40.000.000đ, phạt bị cáo Lê Bá Minh C30.000.000đ để sung nộp ngân sách nhà nƣớc. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Ho, bị cáo C.

* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ chai bia nhãn hiệu “THANH HOA”; 03 vỏ chai bia nhãn hiệu “THABREW”, màu xanh; 05 mảnh vỡ thủy tinh màu nâu đỏ; 03 mảnh vỡ thủy tinh màu xanh; 08 mảnh vỡ thủy tinh dạng vỏ chai bia, màu vàng đậm; 08 mảnh vỡ thủy tinh dạng vỏ chai bia, màu xanh; 01 con dao tự chế dài 50cm; 01 thanh kiếm dài 72cm bằng kim loại; 01 con dao dài 42cm bằng kim loại; 01 con dao dài 27,5cm

- Tịch thu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh đã qua sử dụng, số máy MT302LL/A; số Seri F2MXPK9JKXKN thu của Đoàn Thế Minh để sung nộp ngân sách Nhà nƣớc.

(Tang vật hiện đang lƣu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng xƣơng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2023)

+ Biện pháp tư pháp: Đối với bị cáo H

- Truy thu bị cáo H số tiền 258.020.000đ và số tiền 9.008.219đ để sung nộp ngân sách Nhà nƣớc.

- Truy thu từ chị Trần Thị Q 8.400.000đ; chị Viên Thị Y 6.000.000đ; chị Lê Thị L 13.000.000đ; anh Nguyễn Danh L 9.500.000đ; anh Nguyễn Phó H 6.700.000đ; anh Đới Sỹ Đ 9.600.000đ; anh Lê Khả H 1.980.000đ; anh Nguyễn Ngọc P 19.800.000đ để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.

- Buộc bị cáo H phải trả lại cho chị Trần Thị Q 6.379.178đ; chị Viên Thị Y 4.687.671đ; anh Hồ Đức B 5.695.890đ; chị Lê Thị L 2.789.041đ; anh Nguyễn Danh L 3.797.260đ; anh Nguyễn Phó H 2.902.740đ; anh Đới Sỹ Đ 6.586.301đ; Lê Khả H 11.391.781đ; anh Nguyễn Ngọc P 11.346.575đ.

+ Biện pháp tư pháp: Đối với bị cáo Q

- Truy thu từ bị cáo Q số tiền 39.500.000đ và số tiền 2.341.918đ để sung nộp ngân sách Nhà nƣớc.

- Truy thu từ anh Phạm Công Q 5.000.000đ; anh Nguyễn Đức L 10.000.000đ; anh Lê Nhữ M 10.000.000đ; anh Vũ Đình D 6.000.000đ; anh Vũ Nhƣ C 10.000.000đ; anh Nguyễn Thanh T 6.000.000đ; anh Nguyễn Xuân M 3.000.000đ để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.

- Buộc bị cáo Q phải trả cho anh Phạm Công Q 617.808đ; anh Nguyễn Đức L 1.835.616đ; anh Lê Nhữ M 2.235.616đ; anh Lê Sỹ L 2.635.616đ; anh Vũ Đình D 2.798.630đ; anh Vũ Nhƣ C 4.371.233đ; anh Nguyễn Thanh T 2.002.740đ; anh Nguyễn Trọng L 1.415.616đ; Nguyễn Văn T 717.808đ; anh Nguyễn Xuân M 1.001.370đ; chị Nguyễn Thị Y 2.226.027đ; anh Lê Bá N 1.335.616đ.

* ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm: Mỗi bị cáo ph¶i nép 200.000®.

Ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 6,7, 7a ,9 cña LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù, thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 cña LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù.

C¸c bÞ c¸o; ngƣời đại diện hợp pháp của các bị cáo Q, V, T, C, K, L; ngƣời bào chữa cho các bị cáo cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. Ngƣời đại diện hợp pháp cho Th và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết bản án. N¬i nhËn

Cỡ chữ