vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 29/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tƣờng V phạm tội “ Cố ý gây thƣơng tích”

Xử phạt: Nguyễn Tƣờng V 30 ( ba mƣơi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2021 Về dân sự: - Buộc bị cáo Nguyên Tƣờng V ph bồi thƣờng cho ông Nguyễn Văn S số tiền số tiền 5.445.952 đồng và bồi thƣờng cho anh Nguyễn Văn Vy số tiền 43.333.000 đồng. Tổng cộng buộc bị cáo ph bồi thƣờng cho ông S và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tƣờng V phạm tội “ Cố ý gây thƣơng tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41 /2023/HS-ST
Ngày: 29 /3/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ–THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Dũng

-Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hữu Đệ

2/ Bà Nguyễn Thị Mai

-Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Minh Anh – Thƣ ký tòa án nhân dân huyện Đ– Thành phố Hà Nội .

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ– Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Luân- Kiểm sát viên.

Ngày 29/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình S thụ lý số: 18/2023/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: An Thị Nh. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Không

Sinh năm: 1982. tại: Hà Nam. HKTT: Thôn B, xã Đ, huyện S, Hà Nội. Nơi tạm trú: Khu Chợ K, xã X, huyện Đ, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ tên bố: An Văn Q, Sinh năm: 1959 (đã chết). Họ tên mẹ: Trần Thị Ph, Sinh năm: 1961 (còn sống). Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Chồng: Đặng Đức C, có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2022

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi kỏi nơi cƣ trú.

Có mặt tại phiên tòa

Ngƣời bị hại: Ông Ngô Nhƣ H, sinh năm 1957

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1960 ( Vợ ông H )

Cùng trú tại: Tổ 50 thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Ngày 06/4/2022, C an huyện Đ nhận đƣợc tin báo về việc: Vào khoảng 12 giờ ngày 06/4/2022 tại khu Chợ K, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội xảy ra sự việc xô sát đánh nhau gây thƣơng tích giữa gia đình anh Đặng Đức C (Sn: 1988) và vợ là An Thị Nh (Sn:1982) cùng trú tại: Khu Chợ K, xã X, huyện Đvà ông Ngô Nhƣ H (Sn: 1957; HKTT: Tổ 50 thị trấn Đ, huyện Đ; Chỗ ở: Khu Chợ K, xã X). Các bên đều đề nghị làm rõ nội dung sự việc và giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trên cơ sở đơn trình báo và lời khai của ngƣời tố giác, lời khai của ngƣời bị hại kết hợp với các tài liệu điều tra thu thập đƣợc, Cơ quan Cảnh sát điều tra – C an huyện Đ đã điều tra làm rõ:

Gia đình ông Ngô Nhƣ H và gia đình ông Lê Văn Th (Sn: 1957; Nơi cƣ trú: Thôn X, xã X, huyện Đ; chỗ ở: Khu Chợ K, xã X) là hàng xóm. Quá trình sinh hoạt ông Th cho gia đình anh Đặng Đức C và vợ là An Thị Nh thuê địa điểm kinh doanh bán bánh mỳ.

Khoảng 12 giờ ngày 06/4/2022, ông Th đang ăn cơm thì ngửi thấy có mùi lạ nên ra hỏi anh C: “C ơi sao có cái mùi gì lạ thế”. Anh C trả lời: “Ông H lúc nãy xịt cái gì vào nhà chú đấy”. Ông Th bảo vợ là bà Ngô Thị M (Sn: 1958) sang nhà ông H hỏi sự việc nên dẫn đến việc hai bên cãi nhau. Ông H gọi anh C ra nói chuyện vì đã chứng kiến sự việc trên. Sau đó, ông H và anh C tiếp tục cãi nhau. Lúc này, An Thị Nh từ nhà chị Nguyễn Thị Huyền (sinh năm 1985; Nơi cƣ trú: Tổ 49, Thị Trấn Đ, huyện Đ) đi về cầm theo chiếc chổi lau nhà cán bằng inox chỉ vào mặt ông H cãi nhau với ông H. Ông H giằng chổi của Nh rồi vụt vào cánh tay trái của Nh. Nh chạy về nhà lấy hung khí là gậy inox có móc sắt ở đầu (gậy phơi quần áo) còn anh C cầm chân ô bằng sắt. Thấy vậy, ông H về nhà lấy côn nhị khúc ra để đánh nhau. Ông H cầm côn nhị khúc vụt Nh nhƣng bị mắc côn vào đầu gậy của Nh đang cầm nên quay về nhà lấy 01 gậy inox rồi quay ra xô sát tiếp với vợ chồng Nh. Anh C cầm con dao (loại dao thƣờng sử dụng để chặt, kinh doanh bán dừa) ra đỡ rồi dùng chân ph đạp về phía ông H nhƣng không trúng, ông H lùi về sau mất Th bằng nên ngã ngồi xuống vỉa hè. Thấy vậy, anh C lùi lại, không lao vào tấn C ông H nữa. Lúc này, Nh đang ở khu vực tủ nƣớng, hai tay cầm gậy inox (phần đầu vẫn mắc dây côn nhị khúc) tiến đến vị trí ông H, vụt từ trên xuống dƣới nhiều lần vào ngƣời ông H làm ông H bị thƣơng chảy máu vùng đầu và tay. Sau đó ông H vùng dậy cầm gậy đuổi đánh lại thì Nh chạy vào trong nhà đóng cửa. Bực tức vì bị đánh nên ông H quay về nhà lấy 01 chiếc búa sắt ra ném về phía anh C và Nh nhƣng không trúng. Ông H tiếp tục nhặt nửa viên gạch dƣới chân (loại gạch ống) ném vào tủ kính bày bán bánh mỳ của gia đình anh C để ở trƣớc cửa làm vỡ kính. Sau đó, ông H quay về nhà cầm 01 thanh kim loại đi đến đập nhiều nhát vào tủ kính và phần kính bếp nƣớng thịt làm vỡ kính và móp méo phần trên bếp nƣớng thịt của gia đình anh C. Công an xã X đã đến ngăn chặn vụ việc và đƣa ông H đi sơ cứu đồng thời mời những ngƣời liên quan lên trụ sở làm việc.

* Vật chứng tạm giữ khi khám nghiệm hiện trường và của những người liên quan:

+ 01 gậy inox dài 1,4m, hình tròn phần đầu có móc, đƣờng kính 1,8cm (dạng gậy phơi quần áo).

+ 01 gậy inox dài 1,34m, hình tròn đƣờng kính 1,5cm phần giữ gậy bị cong móp.

+ 01 cán chổi lau nhà bằng K loại dài 1,1m tay nắm bằng nhựa màu xanh dài 34cm một phần bị móp bẹp.

+ 01 chân ô bằng kim loại dài 1m, đƣờng kính 3cm, hình tròn một đầu gắn ốc khóa giữ ô che.

+ 01 con dao bằng kim loại dài 41cm, bản rộng lớn nhất 7,5cm, chỗ bé nhất 4cm, phần lƣỡi dao dài 30cm, chuôi dao 10cm.

+ 01 búa bằng kim loại (loại búa đinh) cán dài 27cm, phần đầu dài 11cm, mặt búa hình vuông kích thƣớc (2x2)cm.

+ 01 viên gạch (loại) gạch ống đã vỡ có kích thƣớc (11x6x3,5)cm, bề mặt có bám dính chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu).

+ 01 côn nhị khúc có hai thanh kim loại hình trụ tròn đƣờng kính 2cm, dài 28cm màu xanh đƣợc nối với nhau bằng dây dù màu xanh dài 20cm.

+ 01 USB chứa đoạn video dài 17 giây ghi lại vụ việc đánh nhau xảy ra ngày 06/4/2022.

* Đối với thƣơng tích của ông Ngô Nhƣ H:

- Tại trích sao bệnh án của ông Ngô Nhƣ H, Bệnh viện đa khoa Đ xác định:

+ Vào viện 13h46 phút ngày 06/4/2022 trong tình trạng tỉnh táo, tiếp xúc tốt, mạch huyết áp nhịp tim ổn định.

+ Vết thƣơng ở đỉnh đầu 5cm, bờ mép nham nhở.

+ Vết thƣơng lóc da cẳng tay phải kích thƣớc (1x2)cm

+ Bầm tím cẳng tay trái.

+ Chụp Xquang chƣa thấy hình ảnh tổn thƣơng xƣơng cổ tay hai bên.

Tại bản kết luận giám định pháp y thƣơng tích số: 644/GĐ-TTPY ngày 19/5/2022 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận thƣơng tích của ông Ngô Nhƣ H nhƣ sau:

- Sẹo vết thương vùng đỉnh đầu: 03%.

- Các vết biến đổi sắc tố da vùng cẳng tay hai bên: 01%.

- Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích và các chạm thương do vật tày, tày có cạnh gây nên.

Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 04% (Bốn phần trăm).

* Đối với thƣơng tích của Đặng Đức C

Tại giấy chứng nhận thƣơng tích ngày 19/4/2022 của Bệnh viện Bắc Th L xác định nhƣ sau:

+ Sưng đau mu bàn tay trái vận động đau. Chụp Xquang không tổn thương xương bàn tay.

+ Cơ quan khác chưa phát hiện bất thường.

Ngày 28/4/2022, Cơ quan điều tra đề nghị anh Đặng Đức C đi giám định nhƣng anh C có đơn từ chối đi giám định tỉ lệ tổn thƣơng cơ thể. Ngày 31/5/2022, Cơ quan điều tra ra quyết định dẫn giải anh C đi giám định nhƣng anh C không chấp hành và kiên quyết từ chối đi giám định, không có yều cầu đề nghị gì về dân sự.

* Đối với thƣơng tích của An Thị Nh, kết quả xem xét dấu vết trên thân thể của Nh xác định: 01 vết thương bầm tím ở giữa cẳng tay trái, không sưng, không trầy xước. Nh không đi khám thƣơng và từ chối đi giám định tỉ lệ tổn thƣơng cơ thể.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 122 ngày 28/4/2022 của Hội đồng định giá thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định thiệt hại về tủ kính, cửa kính của gia đình anh C cụ thể nhƣ sau:

- 01 tủ kính bằng nhôm kích thước (1,5x1,3x0,5)m bị vỡ kính mặt trước kích thước (1,45x0,95)m kính dày 0,5cm; vỡ kính mặt bên trái kích thước (0,9x0,45)m kính dày 0,5cm;

- 01 xe bánh mỳ nhãn hiệu “DONER KEBAB” khung bằng K loại kích thước (1,88x0,9x0,58)m bị vỡ cánh cửa kính bên trái phía trước xe bánh mi kích thước (0,65x0,34)m tình trạng vỡ, kính dày 0,5cm.

Tổng số kính bị thiệt hại là 1,99m2 trị giá: 497.500đồng.

- Khung nhôm phía trước bên trái tủ kính có vết bẹp lõm trên diện (10x4)cm. trị giá 400.000đồng.

- Keo + C làm: 648.000đồng.

Tổng số tiền bị thiệt hại là: 1.545.500đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 177 ngày 24/6/2022 của Hội đồng định giá thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định thiệt hại về số bánh mỳ và xúc xích của gia đình anh C cụ thể nhƣ sau:

- Bánh mỳ ngọt: 11 chiếc trị giá 55.000đồng.

- Bánh mỳ ruốc dài: 05 chiếc trị giá 40.000đồng.

- Bánh mỳ ruốc cua: 06 chiếc trị giá 48.000đồng.

- Bánh mỳ ruốc vuông: 16 chiếc trị giá: 96.000đồng.

- Bánh socola: 04 chiếc trị giá: 28.000đồng.

- Bánh mỳ rùa: 04 chiếc trị giá: 24.000đồng.

- Xúc xích nướng: 08 chiếc trị giá: 80.000đồng.

Tổng số tiền thiệt hại: 371.000 đồng.

Ngày 09/11/2022, Cơ quan điều tra tiếp tục yêu cầu Hội đồng định giá xác định thiệt hại tài sản của gia đình anh C là số thịt lợn bị thiệt hại trong vụ việc ngày 06/4/2022. Tuy nhiên do gia đình anh C không cung cấp đƣợc khối lƣợng cụ thể thịt lợn bị hƣ hỏng nên Cơ quan điều tra cũng không cung cấp đƣợc cho Hội đồng định giá làm căn cứu định giá nên ngày 23/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ có thông báo số 20 về việc không định giá tài sản theo yêu cầu định giá cụ thể nhƣ sau:

- Số lượng thịt lợn thiệt hại do kính bắn vào trong vụ việc ngày 06/4/2022 (Có hình ảnh kèm theo). Căn cứ điểm C, Điều 10, Nghị định số 30/2018/NĐ-CP, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ năm 2022 thống nhất không định giá các tài sản theo yêu cầu định giá số 317/YC-CQĐT-ĐTTH ngày 09/11/2022.

Nhƣ vậy tổng trị giá thiệt hại về tài sản của gia đình anh C do ông Ngô Nhƣ H làm hƣ hỏng là: 1.916.500đ.

Tại Bản kết luận giám định số 2968 ngày 10/6/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận:

- Trên viên gạch gửi giám định có dính máu của ông Ngô Như H.

- Mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường là máu người và là máu của ông Ngô Như H.

Tại Bản kết luận giám định số 2981 ngày 26/5/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Mẫu vật gửi giám định là côn nhị khúc tự chế, thuộc loại có tính năng, tác dụng tương tự công cụ hỗ trợ.

Tại Bản kết luận giám định số 2963 ngày 25/7/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong nội dung tệp video mẫu cần giám định.

- Đã xác định hành động của những người có trong tệp video mẫu cần giám định và khoảng thời gian thực hiện hành động được mô tả và thể hiện chi tiết trong phụ lục kèm theo.

Tại Cơ quan điều tra, An Thị Nh khai nhận hành vi nhƣ trên, tuy Nh cho rằng hành vi của bản thân là phòng vệ chính đáng và không vi phạm pháp luật. Nh không yêu cầu bồi thƣờng về thƣơng tích và tiếp tục đề nghị xác định thiệt hại về số thịt của gia đình Nh bị ông H làm hƣ hỏng.

Tại Cơ quan điều tra, ông Ngô Nhƣ H khai nhận có hành vi làm hƣ hỏng tài sản và xô sát đánh nhau nhƣ trên phù hợp với tài liệu điều tra thu thập đƣợc. Ngoài ra, ông H còn đề nghị xử lý ông Lê Văn Th và bà Ngô Thị M vì cho rằng vợ chồng ông Th chỉ đạo việc An Thị Nh và anh Đặng Đức C đánh gây thƣơng tích cho ông H.

Đối với anh Đặng Đức C, kết quả điều tra xác định hành vi của anh C không vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với đề nghị của An Thị Nh và anh C về việc tiếp tục định giá số thịt bị ông H làm hƣ hỏng, kết quả điều xác xác định: Sau khi sự việc xảy ra, vào khoảng 17 giờ cùng ngày gia đình anh C vẫn tiếp tục bán bánh mỳ thịt cho khách là anh Nguyễn Thành Nam (Sn: 2003; trú tại: Tổ 49, thị trấn Đ). Đồng thời bản thân gia đình anh C cũng không cung cấp đƣợc cụ thể khối lƣợng số thịt bị hƣ hỏng nên không có căn cứ để xác định trị giá tài sản bị thiệt hại. Do vậy đề nghị của gia đình anh C về việc này không có căn cứ xác định.

Về việc ông H đề nghị xử lý ông Lê Văn Th và bà Ngô Thị M, kết quả điều tra xác định ông Th và bà M không liên quan đến hành vi vi phạm của An Thị Nh nên Cơ quan điều tra không đề cập xƣ lý.

Đối với hành vi cố ý hủy hoại tài sản, hành vi gây tổn hại sức khỏe của ngƣời khác và mang theo V khí thô sơ để nhằm mục đích gây thƣơng tích cho ngƣời khác của ông Ngô Nhƣ H, không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Đối với: 01 gậy inox dài 1,4m, hình tròn phần đầu có móc, đƣờng kính 1,8cm. (dạng gậy phơi quần áo); 01 gậy inox dài 1,34m, hình tròn đƣờng kính 1,5cm phần giữ gậy bị cong móp; 01 cán chổi lau nhà bằng kim loại dài 1,1m tay nắm bằng nhựa màu xanh dài 34cm một phần bị móp bẹp; 01 chân ô bằng Kim loại dài 1m, đƣờng kính 3cm, hình tròn một đầu gắn ốc khóa giữ ô che; 01 con dao bằng Kim loại dài 41cm, bản rộng lớn nhất 7,5cm, chỗ bé nhất 4cm, phần lƣỡi dao dài 30cm, chuôi dao 10cm; 01 búa bằng Kim loại (loại búa đinh) cán dài 27cm, phần đầu dài 11cm, mặt búa hình vuông kích thƣớc (2x2)cm; 01 viên gạch (loại) gạch ống đã vỡ có kích thƣớc (11x6x3,5)cm, bề mặt có bám dính chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 côn nhị khúc có hai thanh Kim loại hình trụ tròn đƣờng kính 2cm, dài 28cm màu xanh đƣợc nối với nhau bằng dây dù màu xanh dài 20cm đều là hung khí trong vụ việc bị can Nh và ngƣời liên quan dùng để đánh nhau gây thƣơng tích nên chuyển Tòa án nhân dân huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Về dân sự: Ông Ngô Nhƣ H yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền cụ thể nhƣ sau: Bồi thƣờng thƣơng tật: 20.000.000đ, bồi thƣờng mất thu nhập: 45.000.000đ, bồi thƣờng mất thu nhập cho ngƣời chăm sóc là: 10.000.000đ, bồi thƣờng chi phí khám chữa bệnh: 9.717.127đ (có hóa đơn, chứng từ), tiền chi phí đi lại là: 1.840.000đ và bồi thƣờng ảnh hƣởng đến tâm lý là: 30.000.000đ. Về dân sự, gia đình anh C không yêu cầu giải quyết về phần dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT – VKS ngày 11 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo An Thị Nh về tội cố ý gây thƣơng tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình S năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ Cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i,n,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình Sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: An Thị Nh với mức án từ 6 đến 9 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về phần dân sự:

Chỉ chấp nhận yêu cầu bồi thƣờng của phía gia đình ông H gồm:

Tiền chi phí khám chữa bệnh = 9.717.127 đồng. Gia đình bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng tại Cơ quan Thi hành án, nên còn ph bồi thƣờng 4.717.127 đồng.

Thiệt hại của gia đình C + Nh không yêu cầu nên không xét.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với ông H là đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự: Cho tịch thu tiêu hủy 01 gậy inox dài 1,4m, hình tròn phần đầu có móc, đƣờng kính 1,8cm. (dạng gậy phơi quần áo); 01 gậy inox dài 1,34m, hình tròn đƣờng kính 1,5cm phần giữ gậy bị cong móp; 01 cán chổi lau nhà bằng Kim loại dài 1,1m tay nắm bằng nhựa màu xanh dài 34cm một phần bị móp bẹp; 01 chân ô bằng Kim loại dài 1m, đƣờng kính 3cm, hình tròn một đầu gắn ốc khóa giữ ô che; 01 con dao bằng Kim loại dài 41cm, bản rộng lớn nhất 7,5cm, chỗ bé nhất 4cm, phần lƣỡi dao dài 30cm, chuôi dao 10cm; 01 búa bằng Kim loại (loại búa đinh) cán dài 27cm, phần đầu dài 11cm, mặt búa hình vuông kích thƣớc (2x2)cm; 01 viên gạch (loại) gạch ống đã vỡ có kích thƣớc (11x6x3,5)cm, bề mặt có bám dính chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 côn nhị khúc có hai thanh Kim loại hình trụ tròn đƣờng kính 2cm, dài 28cm màu xanh đƣợc nối với nhau bằng dây dù màu xanh dài 20cm đều là hung khí trong vụ việc bị can Nh và ngƣời liên quan dùng để đánh nhau gây thƣơng tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụn

Về hành vi và tội danh: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra, từ đó khẳng định vào khoảng 12 giờ ngày 06/4/2022, An Thị Nh đã có hành vi sử dụng gậy Inox (là hung khí nguy hiểm) đánh gây thƣơng tích (tổn hại sức khỏe là 04%) đối với ông Ngô Nhƣ H tại Khu Chợ K, xã X huyện Đ, thành phố Hà Nội. Từ đó có thể kết luận hành vi của bị cáo An Thị Nh đã phạm tội “ Cố ý gây thƣơng tich” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự nhƣ kết luận của kiểm sát viên tại phiên tòà có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với anh Đặng Đức C, kết quả điều tra xác định hành vi của anh C không vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với đề nghị của An Thị Nh và anh C về việc tiếp tục định giá số thịt bị ông H làm hƣ hỏng, kết quả điều xác xác định: Sau khi sự việc xảy ra, vào khoảng 17 giờ cùng ngày gia đình anh C vẫn tiếp tục bán bánh mỳ thịt cho khách là anh Nguyễn Thành N (Sn: 2003; trú tại: Tổ 49, thị trấn Đ). Đồng thời bản thân gia đình anh C cũng không cung cấp đƣợc cụ thể khối lƣợng số thịt bị hƣ hỏng nên không có căn cứ để xác định trị giá tài sản bị thiệt hại. Do vậy đề nghị của gia đình anh C về việc này không có căn cứ xác định.

Về việc ông H đề nghị xử lý ông Lê Văn Th và bà Ngô Thị M, kết quả điều tra xác định ông Th và bà M không liên quan đến hành vi vi phạm của An Thị Nh nên Cơ quan điều tra không đề cập xƣ lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi cố ý hủy hoại tài sản, hành vi gây tổn hại sức khỏe của ngƣời khác và mang theo V khí thô sơ để nhằm mục đích gây thƣơng tích cho ngƣời khác của ông Ngô Nhƣ H, không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là đúng quy định của pháp luật.

Đối với: 01 gậy inox dài 1,4m, hình tròn phần đầu có móc, đƣờng kính 1,8cm. (dạng gậy phơi quần áo); 01 gậy inox dài 1,34m, hình tròn đƣờng kính 1,5cm phần giữ gậy bị cong móp; 01 cán chổi lau nhà bằng Kim loại dài 1,1m tay nắm bằng nhựa màu xanh dài 34cm một phần bị móp bẹp; 01 chân ô bằng kim loại dài 1m, đƣờng kính 3cm, hình tròn một đầu gắn ốc khóa giữ ô che; 01 con dao bằng Kim loại dài 41cm, bản rộng lớn nhất 7,5cm, chỗ bé nhất 4cm, phần lƣỡi dao dài 30cm, chuôi dao 10cm; 01 búa bằng Kim loại (loại búa đinh) cán dài 27cm, phần đầu dài 11cm, mặt búa hình vuông kích thƣớc (2x2)cm; 01 viên gạch (loại) gạch ống đã vỡ có kích thƣớc (11x6x3,5)cm, bề mặt có bám dính chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 côn nhị khúc có hai thanh Kim loại hình trụ tròn đƣờng kính 2cm, dài 28cm màu xanh đƣợc nối với nhau bằng dây dù màu xanh dài 20cm đều là hung khí trong vụ việc bị can Nh và ngƣời liên quan dùng để đánh nhau gây thƣơng tích cần cho tịch thu tiên hủy.

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thƣờng khắc phục một phần hậu quả; thực hiện hành vi vi phạm khi đang mang thai, đang nuôi con dƣới 36 thang tuổi nên đƣợc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng nhƣ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có lý lịch và nơi cứ trú rõ ràng, nên cho bị cáo đƣợc cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về dân sự:

Ông Ngô Nhƣ H yêu cầu bị cáo An Thị Nh bồi thƣờng: Bồi thƣờng thƣơng tật: 20.000.000đ, bồi thƣờng mất thu nhập: 45.000.000đ, bồi thƣờng mất thu nhập cho ngƣời chăm sóc là: 10.000.000đ, bồi thƣờng chi phí khám chữa bệnh: 9.717.127đ (có hóa đơn, chứng từ), tiền chi phí đi lại là: 1.840.000đ và bồi thƣờng ảnh hƣởng đến tâm lý là: 30.000.000đ. Tổng cộng là 116.557.000 đồng ( Một trăm mƣời sáu triệu, năm trăm năm mƣơi bẩy nghìn đồng ).

Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận: Tiền chi phí khám chữa bệnh = 9.717.127 đồng, Chi phí đi lại = 1.840.000 đồng, tiền mất thu nhập của ông H trong vòng 01 tháng = 6.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của vợ ông H do phải chăm sóc chồng trong vòng 01 tháng = 6.000.000 đồng. Tổng cộng là: 23.557.000 đồng. Gia đình bị cáo Nh đã nộp 5.000.000 đồng tại Cơ quan Thi hành án nên chỉ còn ph bồi thƣờng tiếp là 18.557.000 đồng ( Mƣời tám triệu, năm trăm năm mƣơi bẩy nghìn đồng )

Gia đình anh C không yêu cầu giải quyết về phần dân sự nên không xét.

Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình S, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy : 01 gậy inox dài 1,4m, hình tròn phần đầu có móc, đƣờng kính 1,8cm. (dạng gậy phơi quần áo); 01 gậy inox dài 1,34m, hình tròn đƣờng kính 1,5cm phần giữ gậy bị cong móp; 01 cán chổi lau nhà bằng Kim loại dài 1,1m tay nắm bằng nhựa màu xanh dài 34cm một phần bị móp bẹp; 01 chân ô bằng Kim loại dài 1m, đƣờng kính 3cm, hình tròn một đầu gắn ốc khóa giữ ô che; 01 con dao bằng Kim loại dài 41cm, bản rộng lớn nhất 7,5cm, chỗ bé nhất 4cm, phần lƣỡi dao dài 30cm, chuôi dao 10cm; 01 búa bằng Kim loại (loại búa đinh) cán dài 27cm, phần đầu dài 11cm, mặt búa hình vuông kích thƣớc (2x2)cm; 01 viên gạch (loại) gạch ống đã vỡ có kích thƣớc (11x6x3,5)cm, bề mặt có bám dính chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 côn nhị khúc có hai thanh Kim loại hình trụ tròn đƣờng kính 2cm, dài 28cm màu xanh đƣợc nối với nhau bằng dây dù màu xanh dài 20cm là đúng quy định của pháp luật.

Tich thu lƣu hồ sơ 01 USB là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo An Thị Nh phạm tội “ Cố ý gây thƣơng tích”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i,n,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: An Thị Nh 06 ( Sáu ) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 12 ( Mƣời hai tháng ).

Giao bị cáo An Thị Nh cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo. .

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình S năm 2015; Điều 468, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải bồi thƣờng cho gia đình ông H là 23.557.000 đồng. Gia đình bị cáo Nh đã nộp 5.000.000 đồng tại Cơ quan Thi hành án nên chỉ còn ph bồi thƣờng tiếp là 18.557.000 đồng ( Mƣời tám triệu, năm trăm năm mƣơi bẩy nghìn đồng ). Gia đình ông H có quyền đến Cơ quan Thi hành án huyện Đđể nhận số tiền 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng ) theo biên lai số 0035036 ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Cơ quan Thi hành án huyện Đ.

Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đƣợc xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân Sự năm 2015 tƣơng ứng với thời gian chƣa thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy : 01 gậy inox dài 1,4m, hình tròn phần đầu có móc, đƣờng kính 1,8cm. (dạng gậy phơi quần áo); 01 gậy inox dài 1,34m, hình tròn đƣờng kính 1,5cm phần giữ gậy bị cong móp; 01 cán chổi lau nhà bằng kim loại dài 1,1m tay nắm bằng nhựa màu xanh dài 34cm một phần bị móp bẹp; 01 chân ô bằng Kim loại dài 1m, đƣờng kính 3cm, hình tròn một đầu gắn ốc khóa giữ ô che; 01 con dao bằng kim loại dài 41cm, bản rộng lớn nhất 7,5cm, chỗ bé nhất 4cm, phần lƣỡi dao dài 30cm, chuôi dao 10cm; 01 búa bằng kim loại (loại búa đinh) cán dài 27cm, phần đầu dài 11cm, mặt búa hình vuông kích thƣớc (2x2)cm; 01 viên gạch (loại) gạch ống đã vỡ có kích thƣớc (11x6x3,5)cm, bề mặt có bám dính chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 côn nhị khúc có hai thanh kim loại hình trụ tròn đƣờng kính 2cm, dài 28cm màu xanh đƣợc nối với nhau bằng dây dù màu xanh dài 20cm ( Theo biên bản giao, nhận ngày 18 tháng 01 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án huyện Đ)

Tịch thu lƣu hồ sơ 01 USB ( Hiện đang có trong hồ sơ )

Bị cáo An Thi Nh phải nộp 200.000 đồng án phí hình S và 1.177.000 đồng ( Một triệu một trăm bẩy mƣơi bẩy nghìn đồng ) án phí dân S sơ thẩm.

Án xử C khai sơ thẩm bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi Nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Bị cáo;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà -Người bị hại -TAND TP Hà Nội -VKSND TP Hà Nội. -VKSND huyện Đ. -C an huyện Đ. -Cơ quan THAHS; -Chi cục THA DS huyện Đ. -Sở tư pháp -Lưu hồ sơ vụ án

Bùi Quang Dũng

Căn cứ vào các tình tiết chứng cứ nêu trên,

KẾT LUẬN

Vào khoảng 12 giờ ngày 06/4/2022, An Thị Nh đã có hành vi sử dụng gậy Inox (là hung khí nguy hiểm) đánh gây thƣơng tích (tổn hại sức khỏe là 04%) đối với ông Ngô Nhƣ H tại Khu Chợ K, xã X, huyện Đ, Hà Nội.

Nhƣ vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dƣới đây đã phạm tội nhƣ sau:

Họ và tên:

An Thị Nh

Giới tính: Nữ

Tên gọi khác:

Không

Sinh năm:

1982 tại: Hà Nam

HKTT: Thôn B, xã Đ, huyện S, Hà Nội.

Nơi tạm trú: Khu Chợ K, xã X, huyện Đ, Hà Nội

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ học vấn: 9/12

Họ tên bố: An Văn Qu

Sinh năm: 1959 (đã chết)

Họ tên mẹ: Trần Thị Ph

Sinh năm: 1961 (còn sống)

Gia đình bị can có 03 chị em, bị can là con thứ nhất.

Chồng: Đặng Đức C, có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2022

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cƣ trú.

Hành vi nêu trên của An Thị Nh đã phạm vào tội Cố ý gây thƣơng tích, tội danh và hình phạt đƣợc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;”

Tình tiết giảm nhẹ: Bị can An Thị Nh thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, thực hiện hành vi vi phạm khi đang mang thai, đang nuôi con dƣới 36 tháng tuổi nên đƣợc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trƣớc Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử bị can An Thị Nh có lý lịch nhƣ đã nêu trên về tội Cố ý gây thƣơng tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

2. Kèm theo Cáo trạng có:

- Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, bằng ….tờ; đánh số thứ tự từ 01 đến……..

- Vật chứng của vụ án (có danh sách kèm theo Cáo trạng) và 01 USB chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

- Những ngƣời Viện kiểm sát đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa (danh sách kèm theo Cáo trạng). Sinh năm 1985. Nơi cƣ trú: Xóm V, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 5/12. Quốc tịch: Việt nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Tƣờng V ©. Con bà: Nguyễn Thị H. Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị Ch – Sinh năm 1974. Có 01 con sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

Ngày 18/10/2003, C an phƣờng H, quận HK xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thƣơng tích, mức phạt 1.000.000 đồng.

Năm 2006, đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện số 4.

Năm 2009, đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện số 8.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2021 đến nay. Hiện đang tạm giam tại trại giam số 1 – CATP Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời bị hại: 1- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1971

2- Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1998

Đều có hộ khẩu thƣờng trú: Xóm V, xã, huyện Đ, Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Ngày 13/6/2020 và ngày 15/6/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra C an huyện Đnhận đƣợc đơn tố giác của ông Nguyễn Văn S (sinh năm: 1971) và con trai ông S là anh Nguyễn Văn Vy (sinh năm: 1998) cùng trú tại: Xóm Vang, xã Cổ Loa, huyện Đ, TP Hà Nội về việc: Khoảng 19h30 ngày 12/6/2020, anh Nguyễn Tƣờng V có hành vi dùng dao (hung khí nguy hiểm) gây thƣơng tích cho ông S và anh Vy. Ông Nguyễn Văn S và anh Nguyễn Văn Vy đề nghị Cơ quan C an cho đi giám định thƣơng tích và làm rõ hành vi của Nguyễn Tƣờng V để xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào đơn trình báo, lời khai của ông S, anh Vy, lời khai nhân chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra làm rõ Nguyễn Tƣờng V là ngƣời dùng dao gây thƣơng tích cho ông S, anh Vy. Cơ quan điều tra đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tƣờng V về tội Cố ý gây thƣơng tích.

Nội dung vụ án đƣợc xác định:

Khoảng 19h00’ ngày 12/6/2020 ông Nguyễn Văn S đang nấu ăn dƣới bếp của gia đình nghe thấy Nguyễn Tƣờng V gọi. Ông S từ bếp đi ra sân gặp V đang đứng ở cổng nói “chăn nuôi đừng để mùi bay sang nhà tôi”, ông S đáp “ở nông thôn nhà nào cũng ph chăn nuôi”. Sau đó V bỏ về nhà, ông S tiếp tục quay lại bếp nấu ăn. Khi về đến nhà, V lấy một con dao (dạng dao gấp, màu trắng inox, lƣỡi dao dài khoảng 10cm) rồi quay lại nhà ông S để tiếp tục nói chuyện.

Trong lúc Nguyễn Tƣờng V về nhà lấy dao thì anh Nguyễn Văn H (sinh năm 1987; ở cùng thôn, cháu ruột ông S) có sang nhà ông S để hỏi mƣợn chiếc sạc điều khiển tivi. Khi sang đến nhà ông S, anh H gặp anh Nguyễn Văn Vy (sinh năm 1998; con đẻ ông S) đang sửa xe ở sân nhà (xe Wave, màu xanh, BKS: 29S3

- 3553). Anh H tiếp tục đi vào trong nhà ông S để tìm chiếc sạc, cổng nhà ông S vẫn mở.

Lúc này, V tay ph cầm dao đi đến cổng nhà ông S quan sát thấy anh Vy đang ở sân và anh H đang ở trong nhà. V nói với anh Vy “mày đứng im không đƣợc làm gì”. Anh Vy đang sửa xe quay mặt lại nhìn ra phía cổng thấy V giơ dao đang cầm ở tay ph lên cao và xông đến vị trí anh Vy. Khi cách anh Vy khoảng 50 cm, V dùng dao đâm từ trên xuống dƣới thì anh Vy dùng tay trái đỡ túm lấy tay dao của V. Hai tay của anh Vy lúc này túm vào hai cánh tay của V và giằng co, xô xát với V, tay ph của V đang cầm dao. Trong lúc hai bên đang giằng co, xô xát, V dùng dao đang cầm ở tay ph đâm trúng vai, ngực anh Vy.

Ông S đang ở bếp nghe thấy tiếng động (dạng ngƣời vật lộn) liền chạy từ bếp lên sân quan sát thấy anh Vy và V (tay ph cầm dao) đang giằng co, xô xát, hai tay anh Vy đang cầm vào hai cánh tay V (tƣơng ứng nhau). Ông S chạy đến phía tay trái anh Vy để can ngăn, khống chế tay dao (tay ph) của V đồng thời hô to “bác Đạo ơi, xuống giúp em với”. Anh H đang ở trong nhà ông S cũng chạy ra đến ph bên tay ph của anh Vy để cùng ông S can ngăn, khống chế V. Khi khống chế tay dao của V, ông S bị V dùng lƣỡi dao khua, gạt trúng cẳng tay trái gây thƣơng tích, chảy nhiều máu. Sau đó, ông S, anh Vy, anh H cùng vật V ngã ngửa ra sân để khống chế. Ông S khống chế tiếp tục đè lên tay dao của V và tƣớc đƣợc dao của V còn anh H khống chế bên tay trái của V, đè lên ngực V; anh Vy đè lên ngƣời V.

Anh Nguyễn Văn L (sinh năm 1980; hàng xóm ông S) đang ăn cơm nghe thấy tiếng động bên nhà ông S chạy sang xem thì thấy ông S, anh Vy, anh H đang tỳ, đè lên ngƣời V để khống chế. Ông S liền nói với anh L “mày gọi C an cho chú”. Anh L liền về nhà lấy điện thoại gọi báo C an xã Cổ Loa để giải quyết rồi lại quay sang nhà ông S. Lúc này, ông Nguyễn Văn Bốn (sinh năm 1964; anh ruột ông S, ở gần nhà) đi đến cổng nhà ông S thấy vậy liền nói “lấy dây điện trói nó lại” (ý trói bị can V) và cùng tham gia khống chế để trói V vào cổng nhà ông S.

Thấy ông S đang bị thƣơng ở tay trái, chảy nhiều máu, anh H liền lấy chiếc xe mà Vy sửa ở sân trƣớc đó đƣa ông S đến bệnh viện đa khoa Đcấp cứu. Anh Vy vào nhà tắm lau ngƣời, thay quần áo phát hiện mình bị thƣơng ở vùng ngực, vai, cánh tay trái, đầu nên sau đó cũng đƣợc anh L đƣa đến bệnh viện Đsau đó ông S, anh Vy đƣợc chuyển đến bệnh viện Bạch Mai cấp cứu, điều trị.

- Bệnh viện Bạch Mai cung cấp hồ sơ bệnh án của ông S: 01 vết thương dài khoảng 6 cm, trên ngoài 1/3 cẳng tay trái, sâu 1,5cm, đứt bán phần cơ cánh tay quay vết thương, sắc gọn.

Ngày 05/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra trƣng cầu Viện Khoa học hình S

- Bộ C an giám định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể, cơ chế hình thành thƣơng tích đối với ông S. Ngày 20/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận đƣợc Bản kết luận giám định pháp y thƣơng tích số 5218/C09-TT1 đề ngày 17/8/2020 của Viện Khoa học hình S - Bộ C an đối với: giám định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể và cơ chế hình thành thƣơng tích của ông Nguyễn Văn S kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể

Đối chiếu Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.2, Chương 8, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn S tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phảy hai phần trăm).

2.2. Cơ chế hình thành thương tích

Thương tích tại cẳng tay trái của ông Nguyễn Văn S do vật sắc gây nên.

- Bệnh viện Bạch Mai cung cấp hồ sơ bệnh án của anh Vy:01 vết thương thành ngực trái vùng tam giác tim phì phò máu - khí khoảng 1,5cm; vết thương mặt ngoài và trong cánh tay trái sấp sỉ 2,5cm xuyên thủng cơ nhị đầu cánh tay; vết thương vai trái cạnh mỏm vùng vai sấp sỉ 1cm không thấy dấu hiệu chảy dịch khớp; vết thương da đầu vùng đỉnh chẩm trái sấp sỉ 1,5cm.

+ Xquang ngực thẳng: hình ảnh xẹp toàn bộ phổi trái, tù góc sườn hoành, tràn dịch tràn khí khoang màng phổi trái không ghi nhận gãy xương sườn, bóng tim không to; hình ảnh đường vỡ xương vị trí 1/3 trên và 1/3 dưới xương cánh tay trái không di lệch.

Ngày 05/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra trƣng cầu Viện Khoa học hình S

- Bộ C an giám định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể, cơ chế hình thành thƣơng tích đối với anh Vy. Ngày 21/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận đƣợc Bản kết luận giám định ph thƣơng tích số 5220/C09-TT1 đề ngày 20/8/2020 của Viện Khoa học hình S - Bộ C an đối với: giám định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể và cơ chế hình thành thƣơng tích của anh Nguyễn Văn Vy kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể

Đối chiếu Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn Vy tại thời điểm giám định là:

- Sẹo thái dương - đỉnh trái: 01% (Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).

- Sẹo mặt trước vai - ½ trên cánh tay trái: 01% (Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).

- Sẹo mặt trước 1/3 giữa cánh tay trái: 01% (Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).

- Sẹo mặt trong 1/3 giữa cánh tay trái: 01% (Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).

- Sẹo vết thương ngực trái: 01% (Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).

- Sẹo dẫn lưu ngực trái: 02% (Nguyên tắc 1 và Mục I.2, Chương 8).

- Mẻ 1/3 trên xương cánh tay trái: 01% (Nguyên tắc chung 1, Chương 7).

- Tổn thương nhu mô phổi trái, đã được điều trị, hiện tại không để lại di chứng: 06% (Mục IV.1, Chương 3).

- Tổn thương màng phổi trái, đã được điều trị, hiện tại không để lại di chứng: 03% (Mục III.1, Chương 3).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn Vy tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm).

2.2. Cơ chế hình thành thương tích

Thương tích trên cơ thể của anh Nguyễn Văn Vy do vật sắc nhọn gây ra.

- Giấy chứng thương số 64 ngày 16/9/2021 của Bệnh viện đa khoa Đ cung cấp thương tích của bị can Nguyễn Tường V: sưng nề ở chân ph kích thước (5x5)cm; 01 vết thương cung mày trái kích thước 0,3cm kèm theo sưng nề vùng cung mày trái; 01 vết thương xây xát ở khủy tay ph kích thước (2x1)cm; XQ khuỷu ph: không có tổn thương; Cắt lớp vi tính sọ: không có tổn thương.

Ngày 15/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra trƣng cầu Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội giám định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể, cơ chế hình thành thƣơng tích của bị cáo Nguyễn Tƣờng V. Ngày 21/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận đƣợc Bản kết luận giám định pháp y thƣơng tích số 958/TTPY đề ngày 17/9/2021 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội đối với giám định Pháp y thƣơng tích của bị cáo Nguyễn Tƣờng V kết luận:

- Trên cơ thể Nguyễn Tường V không sưng nề bầm tím, không có sẹo vết thương, không có điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe.

Quá trình giải quyết vụ án Nguyễn Tƣờng V và gia đình cung cấp 02 hồ sơ bệnh án điều trị tâm thần của V tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội và Bệnh viện Tâm thần Lê Minh Xuân Tp. Hồ Chí Minh. Ngày 13/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra trƣng cầu Viện Pháp y tâm thần trung ƣơng giám định tâm thần đối với Nguyễn Tƣờng V. Ngày 15/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận đƣợc Bản kết luận giám định số 27/KLGĐ của Viện Pháp y Tâm thần Trung ƣơng đề ngày 18/1/2021 đối với giám định pháp y tâm thần Nguyễn Tƣờng V trƣớc, trong, sau khi thực hiện hành vi cố ý gây thƣơng tích ngày 12/6/2021 kết luận nhƣ sau:

- Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Tường V có biểu hiện hội chứng nghiện chất dạng thuốc phiện. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F11.2. Tại các thời điểm trên đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Vật chứng vụ án:

- 01 con dao K loại (loại dao gấp) dài tổng thể khoảng 22,5 cm (khi lên lƣỡi), phần chuôi bằng K loại có gắn gỗ màu nâu, lƣỡi dài khoảng 10cm, đầu nhọn.

- Khám nghiệm hiện trƣờng thu giữ: Mẫu chất màu nâu đỏ thu tại mặt đƣờng và trụ cổng bên ph (từ ngoài vào).

- Thu giữ mẫu tóc của ông Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn Vy để phục vụ việc giám định.

Ngày 05/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra trƣng cầu Viện Khoa học hình S

- Bộ C an giám định AND đối với mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trƣờng, con dao tạm giữ và mẫu tóc của ông S, anh Vy. Ngày 01/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận đƣợc Bản kết luận giám định số 5217/C09-TT3 đề ngày 31/8/2020 của Viện Khoa học hình S - Bộ C an về việc giám định AND đối với chất màu nâu đỏ thu ở mặt đƣờng và trụ cổng bên ph (hƣớng từ ngoài vào), 01 con dao (dạng dao gấp) là vật chứng tạm giữ, mẫu tóc của ông Nguyễn Văn S và anh Nguyễn Văn Vy kết luận:

Trên con dao (dạng dao gấp) gửi giám định có dính máu của cả Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn Vy.

Chất màu nâu đỏ gửi giám định ghi thu ở mặt đường và trụ cổng bên ph (hướng từ ngoài vào) là máu người và là máu của Nguyễn Văn S.

Hoàn trả con dao và một phần mẫu máu, mẫu tóc còn lại sau giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tƣờng V khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập đƣợc.

Đối với việc Nguyễn Tƣờng V khai bị đánh, đạp vào đầu khi bị ông S, anh Vy, anh H khống chế: ngoài lời khai của bị can không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Ông S, anh Vy, anh H (ngƣời khống chế) và ông Nguyễn Văn Bốn (tham gia trói anh V), anh Nguyễn Văn L (ngƣời làm chứng) đều khẳng định không có ai có hành vi đánh, đạp bị can V. Kết luận giám định pháp y thƣơng tích đối với bị can V xác định không có điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe vì vậy không có căn cứ xử lý.

Đối với việc bị can V bị anh Vy, ông Bốn, anh H, ông S trói tại cổng nhà ông S: Do bị can V có hành vi dùng dao gây thƣơng tích cho 02 ngƣời nên những ngƣời này tiến hành khống chế, trói V. Trƣớc khi trói, ông S đã nhờ anh L báo C an xã, Đ, Hà Nội để giải quyết S việc nên không xem xét xử lý.

Phần dân S: Nguyễn Tƣờng V đã bồi thƣờng cho ông S, anh Vy số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn S và anh Nguyễn Văn Vy đề nghị Nguyễn Tƣờng V tiếp tục bồi thƣờng tiền viện phí và chi phí khác bao gồm:

Của ông S:

- Tiền xe đi viện và đi về nhà: 580.000 đồng

- Mất thu nhập do 02 tháng không đi làm: 6.000.000đồng x 2 = 12.000.000đ

- Bồi thƣờng tổn thất về tinh thần bằng 20 lần mức lƣơng cơ sở: 1.490.000 đồng x 20 = 29.800.000 đồng.

- Tiền viện phí: 395.952 đồng.

- Tiền thuốc: 3.500.000 đồng ( đã làm mất hóa đơn )

- Tiền vợ chăm sóc một tháng = 5.500.000 đồng.

Tổng cộng của ông S là: 51.775.952 đồng.

Của anh Vy:

- Tiền xe đi viện và đi về nhà: 270.000 đồng.

- Mất thu nhập do 02 tháng không đi làm: 8.000.000 đồng x 2 = 16.000.000 đồng.

- Bồi thƣờng tổn thất về tinh thần bằng 50 lần mức lƣơng cơ sở: 1.490.000 đồng x 50 = 74.500.000 đồng.

- Tiền viện phí: 12.572.598 đồng + 1.485.000 đồng = 14.057.598 đồng.

- Hóa đơn tiền thuốc: 5.000.000 đồng ( đã làm mất hóa đơn ).

- Tiền anh trai chăm sóc một tháng = 21.800.000 đồng.

Tổng cộng của anh Vy: 130.827.598 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 194/CT – VKS ngày 29 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đđã truy tố bị cáo Nguyễn Tƣờng V về tội cố ý gây thƣơng tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình S năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đgiữ quyền C tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ Cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 ( dẩn chiếu điểm a,i khoản1 ) Điều 134; điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình S năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt:

Nguyễn Tƣờng V với mức án từ 36 đến 42 tháng tù

Về phần dân S: : Nguyễn Tƣờng V đã bồi thƣờng cho ông S, anh Vy số tiền 10.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn S và anh Nguyễn Văn Vy đề nghị Nguyễn Tƣờng V tiếp tục bồi thƣờng tiền viện phí và chi phí khác theo quy định.

Yêu cầu bị cáo bồi thƣờng cho ông S, anh Vy, cụ thể:

- Đối với chi phí điều trị có hóa đơn của ông S là 395.000 đồng.

- Đối với chi phí điều trị có hóa đơn của anh Vy là 12.573.000 đồng.

- Đối với chi phí bồi thƣờng tổn hại sức khỏe do bị xâm hại: Áp dụng khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân S; Nghị quyết 03/NQ ngày 08/7/2006 hƣớng dẫn bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng, Điều 3 Nghị định 72/NĐ ngày 15/5/2018 về hƣớng dẫn mức lƣơng tối thiểu buộc bị cáo V bồi thƣờng cho ông S là 03 tháng lƣơng tối thiểu cụ thể: 1.490.000 đồng x 3 = 4.470.000 đồng.

- Đối với chi phí bồi thƣờng tổn hại sức khỏe do bị xâm hại đối với anh Vy là 10 tháng lƣơng tối thiểu cụ thể: 1.490.000 đồng x10 = 14.900.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo ph bồi thƣờng cho ông S, anh Vy là 31.928.000 đồng ( bị cáo V đã bồi thƣờng 10.000.000 đồng ). Số tiền bị cáo V còn lại ph bồi thƣờng là: 21.928.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình S; Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân S: Cho tịch thu tiêu hủy 01 ( một ) con dao K loại ( loại dao gấp ) dài tổng thể khoảng 22,5 cm ( khi lên lƣỡi ), phần chuôi dao bằng K loại có gắn gỗ mầu nâu, lƣỡi dài khoảng 10cm, đầu nhọn và một phần mẫu máu thu tại hiện trƣờng, mẫu tóc hoàn lại sau giám định ( đƣợc niêm phong trong phong bì có hình dấu của Viện Khoa học hình S - Bộ C an )

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an huyện Đ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng.

Về hành vi và tội danh: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Từ đó có khẳng định ngày 12/6/2020, Nguyễn Tƣờng V có hành vi dùng dao K loại đầu nhọn là hung khí nguy hiểm gây thƣơng tích cho ông Nguyễn Văn S tỷ lệ thƣơng tật là 02% và anh Nguyễn Văn Vy tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 16% tại Xóm Vang, xã Cổ Loa, huyện Đ, thành phố Hà Nội.Từ đó có thể kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Tƣờng V đã phạm tội “ Cố ý gây thƣơng tich” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình S nhƣ kết luận của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với việc Nguyễn Tƣờng V khai bị đánh, đạp vào đầu khi bị ông S, anh Vy, anh H khống chế: ngoài lời khai của bị can không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Ông S, anh Vy, anh H (ngƣời khống chế) và ông Nguyễn Văn Bốn (tham gia trói anh V), anh Nguyễn Văn L (ngƣời làm chứng) đều khẳng định không có ai có hành vi đánh, đạp bị can V. Kết luận giám định pháp y thƣơng tích đối với bị can V xác định không có điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe vì vậy không có căn cứ xử lý là đúng pháp luật.

Đối với việc bị can V bị anh Vy, ông Bốn, anh H, ông S trói tại cổng nhà ông S: Do bị can V có hành vi dùng dao gây thƣơng tích cho 02 ngƣời nên những ngƣời này tiến hành khống chế, trói V. Trƣớc khi trói, ông S đã nhờ anh L báo C an xã Cổ Loa, Đ, Hà Nội để giải quyết S việc nên không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S của bị cáo:

Bị cáo không ph chịu tình tiết tăng nặng theo quy định của Bộ luật hình S và có các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo bồi thƣờng hậu quả cho ngƣời bị hại, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên áp dụng điểm b,s điều 51. Tuy nhiên bị cáo là đối tƣợng đã 02 lần đi vào cơ sở cai nghiện, 01 lần bị xử phạt hành chinh về hành vi cố ý gây thƣơng tích mặc dù đây không ph là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình S nhƣng cũng đánh giá về nhân thân của bị cáo. Nên cần áp dụng hình phạt tù tƣơng xứng, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về dân S: Nguyễn Tƣờng V đã bồi thƣờng cho ông S, anh Vy số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn S và anh Nguyễn Văn Vy đề nghị Nguyễn Tƣờng V tiếp tục bồi thƣờng tiền viện phí và chi phí khác:

Tổng cộng của ông S là 51.775.952 đồng gồm:

- Tiền xe đi viện và đi về nhà: 580.000 đồng, nên cần đƣợc chấp nhận

- Mất thu nhập do 02 tháng không đi làm: 6.000.000đồng x 2 = 12.000.000đ, không đƣợc chấp nhận.

- Bồi thƣờng tổn thất về tinh thần bằng 20 lần mức lƣơng cơ sở: 1.490.000 đồng x 20 = 29.800.000 đồng. Hội đồng xét xử chấp nhận 03 tháng lƣơng tối thiểu cụ thể: 3x1.490.000 đồng = 4.470.000 đồng

- Tiền viện phí: 395.952 đồng, nên đƣợc chấp nhận.

- Tiền thuốc: 3.500.000 đồng ( đã làm mất hóa đơn ), không đƣợc chấp nhận.

- Tiền vợ chăm sóc một tháng = 5.500.000 đồng, không đƣợc chấp nhận

Tổng cộng ông S đƣợc chấp nhận là: 5. 445.952 đồng.

Của anh Vy:

- Tiền xe đi viện và đi về nhà: 270.000 đồng, nên đƣợc chấp nhận.

- Mât thu nhập do 02 tháng không đi làm: 8.000.000 đồng x 2 = 16.000.000 đồng, nên đƣợc chấp nhận.

- Bồi thƣờng tổn thất về tinh thần bằng 50 lần mức lƣơng cơ sở: 1.490.000 đồng x 50 = 74.500.000 đồng. Hội đồng xét xử chấp nhận 10 tháng lƣơng tối thiểu cụ thể: 10 x1.490.000 đồng = 14.490.000 đồng.

- Tiền viện phí: 12.572.598 đồng + 1.485.000 đồng = 14.057.598 đồng. Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận chi phí điều trị có hóa đơn là: 12.573.000 đồng.

- Hóa đơn tiền thuốc: 5.000.000 đồng ( đã làm mất hóa đơn ), không đƣợc chấp nhận.

- Tiền anh trai chăm sóc một tháng = 21.800.000 đồng, không đƣợc chấp nhận.

Tổng cộng anh Vy đƣợc chấp nhận là: 43.333.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình S, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình S: Tịch thu tiêu hủy 01 ( một ) con dao K loại ( loại dao gấp ) dài tổng thể khoảng 22,5 cm ( khi lên lƣỡi ), phần chuôi dao bằng K loại có gắn gỗ mầu nâu, lƣỡi dài khoảng 10cm, đầu nhọn và một phần mẫu máu thu tại hiện trƣờng, mẫu tóc hoàn lại sau giám định ( đƣợc niêm phong trong phong bì có hình dấu của Viện Khoa học hình sự - Bộ công an )

Về án phí: Bị cáo ph chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tƣờng V phạm tội “ Cố ý gây thƣơng tích”

Căn cứ điểm đ khoản 2 ( dẫn chiếu điểm a,i khoản 1 ) Điều 134; điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình Sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Tƣờng V 30 ( ba mƣơi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2021

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình Sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình Sự năm 2015; Điều 468, Điều 590 Bộ luật Dân Sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về dân sự: - Buộc bị cáo Nguyên Tƣờng V ph bồi thƣờng cho ông Nguyễn Văn S số tiền số tiền 5.445.952 đồng và bồi thƣờng cho anh Nguyễn Văn Vy số tiền 43.333.000 đồng. Tổng cộng buộc bị cáo ph bồi thƣờng cho ông S và anh Vy số tiền 48.779.000 đồng. Bị cáo V đã bồi thƣờng cho ông S và anh Vy 10.000.000 đồng. Bị cáo V ph bồi thƣờng tiếp cho ông S và anh Vy số tiền 38.779.000 đồng ( ba mƣơi tám triệu, bẩy trăm bẩy mƣơi chín nghìn đồng ).

Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời ph thi hành án dân sự có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên ph thi hành án còn ph chịu khoản tiền lãi của số tiền còn ph thi hành án theo mức lãi suất đƣợc xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân Sự năm 2015 tƣơng ứng với thời gian chƣa thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy 01 ( một ) con dao kim loại ( loại dao gấp ) dài tổng thể khoảng 22,5 cm ( khi lên lƣỡi ), phần chuôi dao bằng kim loại có gắn gỗ mầu nâu, lƣỡi dài khoảng 10cm, đầu nhọn và một phần mẫu máu thu tại hiện trƣờng, mẫu tóc hoàn lại sau giám định ( đƣợc niêm phong trong phong bì có hình dấu của Viện Khoa học hình sự- Bộ công an )( Tình trạng vật chứng nhƣ Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2021 giữa Công an huyện Đ và chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

Các bị cáo Nguyễn Tƣờng V ph nộp 200.000 đồng án phí hình sự và 1.939.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử C khai sơ thẩm bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi Nhận:

Cỡ chữ