- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cưỡng đoạt tài sản - Bị truy tố tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Vương C phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HS-ST Ngày 17-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Mật;
Bà Nông Thị Sen.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Âu Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2023/TLST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 980/TA-TA ngày 22 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Vương C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 25-4-2005 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 13, ngõ 312, đường L, khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Sỹ N, sinh năm 1973 và bà Vũ Kim L, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13-02-2023 cho đến nay; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Vương C: Ông Trần Sỹ N, sinh năm 1973, vắng mặt và bà Vũ Kim L, sinh năm 1973, có mặt; cùng địa chỉ: Khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn - Là bố, mẹ đẻ của bị cáo Trần Vương C.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Vương C: Ông Mai Xuân Thắng -Trợ giúp viên pháp lý, thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Đại diện Trường THPT C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn nơi bị cáo Trần Vương C học tập: Bà Hoàng Thu Hằng – Giáo viên (văn bản cử số: 38/CV-THPTCL ngày 21-02-2023); vắng mặt.
- Bị hại: Cháu Vi Huyền A, sinh ngày 30-01-2009; trú tại: Số 12, ngõ 29x, đường L, Khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Vi Huyền A: Ông Vi Bình S, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 48, đường Lương Định Của, khu đô thị P, khối 6, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1983; địa chỉ: Y, Đ, Thái Nguyên - Là bố, mẹ đẻ của bị hại Vi Huyền A; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp ông Vi Bình S: Bà Hoàng Minh Th, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 12, ngõ 29x, đường L, Khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (giấy ủy quyền ngày 21-02-2023); có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Vi Huyền A: Bà Hoàng Thị Thương -Trợ giúp viên pháp lý, thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Đại diện Trường THCS thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn nơi bị hại Vi Huyền A học tập: Bà Lành Thu Hằng – Giáo viên (văn bản cử số: 08/CV-THCS ngày 01-3-2023); vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Đinh Văn Th1, sinh năm 1990; trú tại: Số 4X, đường B, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
2. Bà Bùi Thu O, sinh năm 1981; trú tại: Số 1XX, phố V, phường V, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03-02-2023, Trần Vương C sử dụng điện thoại Iphone 8 Plus truy cập vào các trang mạng xã hội, lúc này tại một trang web (không nhớ trang web nào) thấy một đoạn video clip dung lượng khoảng 10 giây, có hình ảnh một người con gái khỏa thân, Trần Vương C nhận ra đó là Vi Huyền A sinh ngày 30-01-2009, trú cùng khu của Trần Vương C, Trần Vương C đã tải video clip về điện thoại của mình. Cùng ngày Trần Vương C đăng nhập tài khoản facebook “Trần Vương C” thấy bài đăng của tài khoản facebook “Thịnh Bio” của Đinh Văn Th1 trên các nhóm, hội chơi cá cảnh. Trần Vương C đã liên hệ với Đinh Văn Th1 qua ứng dụng Messenger thỏa thuận mua 01 con cá lóc cảnh với giá 300.000 đồng. Do là học sinh, chưa có thu nhập nên Trần Vương C nảy sinh ý định sử dụng hình ảnh khỏa thân của Vi Huyền A mục đích đe dọa, uy hiếp tinh thần để Vi Huyền A phải chuyển khoản cho Trần Vương C số tiền 300.000 đồng tiền mua cá lóc cảnh của Đinh Văn Th1. Ngày 05-02-2023 Trần Vương C sử dụng tài khoản facebook “Bảo Hoàng” được đăng nhập trên điện thoại di động của Trần Vương C để nhắn tin qua ứng dụng Messenger đến tài khoản facebook “Viii Huyen Anhh” của Vi Huyền A, gửi các hình ảnh khỏa thân của Vi Huyền A, đồng thời đe dọa, uy hiếp tinh thần buộc Vi Huyền A phải chuyển cho mình số tiền 300.000 đồng vào tài khoản Techcombank số 19028663727012 mang tên DINH VAN THINH là tài khoản của chủ cửa hàng bán cá cảnh tại Hà Nội, Trần Vương C không biết địa chỉ cụ thể, có tên facebook “Thịnh bio”, nếu Vi Huyền A đồng ý Trần Vương C sẽ xóa hết video clip nhạy cảm của Vi Huyền A, còn nếu không thực hiện theo yêu cầu của Trần Vương C thì Trần Vương C sẽ đăng lên trang Web Khiêu dâm và trang Fanpage của trường THCS thị trấn Đ. Quá trình nhắn tin với Vi Huyền A, Trần Vương C đã sử dụng các thủ đoạn như gửi đoạn video nhạy cảm của Vi Huyền A được lưu trong máy của Trần Vương C, soạn sẵn nội dung có đính kèm video nhạy cảm của Vi Huyền A rồi chụp ảnh lại để đe dọa đăng tải lên trang Web Khiêu dâm và trang Fanpage của trường THCS thị trấn Đ nhằm đe dọa, uy hiếp tinh thần để tạo áp lực, thúc giục Vi Huyền A chuyển tiền cho mình. Do lo sợ ảnh hưởng đến việc học tập và cuộc sống của bản thân nên Huyền Anh đồng ý chuyển khoản số tiền 300.000 đồng cho Trần Vương C. Ngày 07-02-2023 Vi Huyền A đã nhờ tài khoản ngân hàng Viettinbank số 108000787369 của Bùi Thu O (bác họ của Vi Huyền A) chuyển tiền đến tài khoản Techcombank số 19028663727012 mang tên Đinh Văn Th1 do Trần Vương C cung cấp. Sau khi chuyển tiền Vi Huyền A có chụp hình ảnh đã giao dịch thành công gửi cho Trần Vương C, khi đã đạt được mục đích Trần Vương C nhắn tin cho Vi Huyền A yêu cầu Vi Huyền A xóa hết toàn bộ đoạn hội thoại đã trao đổi với Vi Huyền A trên ứng dụng Messenger, đồng thời Trần Vương C cũng xóa đoạn hội thoại trên máy điện thoại của Trần Vương C và khóa tài khoản facebook “Bảo Hoàng” đăng xuất ra khỏi điện thoại của Trần Vương C.
Ngày 08-02-2023, ông Vi Bình S là bố đẻ cháu Vi Huyền A có đơn trình báo Phòng PA05 Công an tỉnh Lạng Sơn về việc có đối tượng sử dụng tài khoản facebook “Bảo Hoàng” gửi video clip cắt ghép có hình ảnh khỏa thân của con gái ông là cháu Vi Huyền A để đe dọa, tống tiền với số tiền là 300.000 đồng. Qua quá trình xác minh, đã xác định được Trần Vương C là người cưỡng đoạt số tiền trên. Ngày 10-02-2023, tại trụ sở Công an thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Phòng PA05 Công an tỉnh Lạng Sơn tiến hành tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, đã qua sử dụng, màu vàng hồng, số IMEI: 3594990824962XX, có gắn sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao 0338.932.123.
Về vật chứng: Hiện đang tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, đã qua sử dụng, màu vàng hồng, số IMEI: 3594990824962XX, có gắn sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao 0338.932.123 của Trần Vương C.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại và gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì.
Cáo trạng số: 31/CT-VKSCL ngày 27 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Vương C về tội Cưỡng đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Vương C thừa nhận bị truy tố về tội Cưỡng đoạt tài sản như nội dung của Cáo trạng là đúng, không oan, sai.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Vương C, ông Trần Sỹ N vắng mặt tại phiên tòa và bà Vũ Kim L có mặt tại phiên tòa khai: Ông Trần Sỹ N và bà là bố, mẹ đẻ của bị cáo. Con ông bà đã có hành vi cưỡng đoạt tài sản của bị hại cháu Vi Huyền A như cáo trạng đã truy tố là đúng. Do thời điểm thực hiện hành vi bị cáo còn ở độ tuổi đang là học sinh lớp 12, nhận thức việc làm của mình còn hạn chế, ông bà mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tiếp tục đi học. Về phần bồi thường thiệt hại dân sự, gia đình bị hại tuy không có yêu cầu bị cáo trả lại 300.000 đồng tiền đã chiếm đoạt, nhưng ông bà tự nguyện bồi thường số tiền này cho bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận ngày 15-5-2023 gia đình ông bà đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0003908 ngày 15-5-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn, để khắc phục hậu quả cho bị cáo.
Bị hại cháu Vi Huyền A; người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Vi Bình S khai trong quá trình điều tra: Hành vi của bị cáo như bị cáo khai nhận là đúng; gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về dân sự.
Người đại diện hợp pháp của ông Vi Bình S là bà Hoàng Minh Th khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Toàn bộ diễn biến hành vi bị cáo Trần Vương C đã thực hiện với bị hại cháu Vi Huyền A như bị cáo đã khai tại phiên tòa là đúng. Về phần hình sự, bị hại và gia đình bị hại yêu cầu Tòa án xét xử theo quy định pháp luật. Về phần bồi thường thiệt hại dân sự, tại đơn xin xét xử vắng mặt của bị hại cháu Vi Huyền A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về danh dự nhân phẩm; không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 300.000 đồng tiền bị cáo chiếm đoạt; gia đình cháu Vi Huyền A không yêu cầu bị cáo Trần Vương C và gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại gì cho cháu Vi Huyền A nên gia đình từ chối không nhận số tiền 300.000 đồng do người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Vũ Kim L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn, đề nghị Tòa án sung ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đinh Văn Th1 khai trong quá trình điều tra: Ngày 07-02-2023, có một người dùng tài khoản facebook “Trần Vương C” nhắn tin mua cho anh qua ứng dụng Messenger thỏa thuận mua 01 con cá lóc cảnh với giá 300.000 đồng; sau đó tài khoản của anh được người này chuyển khoản 300.000 đồng từ tài khoản ngân hàng mang tên Bùi Thu O, anh gửi cá cho người này theo địa chỉ ngã 3 Đ, Lạng Sơn và số điện thoại 0338932123 do người này cung cấp. Anh không quen biết, không biết bị cáo và bị hại; không biết số tiền 300.000 đồng anh được nhận là tiền do bị cáo chiếm đoạt của bị hại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Bùi Thu O khai trong quá trình điều tra: Bà là bác họ của cháu Vi Huyền A. Ngày 07-02-2023 bà có được nghe cháu kể bị đe dọa, tống tiền thì bà mới biết sự việc. Bà được cháu Vi Huyền A nhờ bà chuyển khoản số tiền 300.000 đồng từ tài khoản ngân hàng mang tên bà vào cho chủ tài khoản mang tên Đinh Văn Th1. Bà không quen biết chủ tài khoản mang tên Đinh Văn Th1.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm buộc tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh, tuyên bố bị cáo Trần Vương C phạm tội Cưỡng đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 50, 90, 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Vương C từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo là người dưới 18 tuổi.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại và gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại là bà Hoàng Minh Th tại phiên tòa đều không yêu cầu bị cáo, gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại gì, nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Trần Vương C 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, đã qua sử dụng, màu vàng hồng, số IMEI: 3594990824962XX, có gắn sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao 0338.932.123. Tịch thu nộp nhân sách nhà nước của anh Đinh Văn Th1 số tiền 300.000 đồng.
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Phần tranh luận:
1. Ông Mai Xuân Thắng - Người bào chữa cho bị cáo Trần Vương C vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã gửi luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 65, các Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt mức thấp nhất của khung hình phạt và cho hưởng án treo, để tạo cơ hội cho bị cáo khắc phục lỗi lầm, được tiếp tục học tập, rèn luyện bản thân thành công dân có ích cho xã hội; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi; về bồi thường thiệt hại, đại diện gia đình bị cáo Trần Vương C đã nộp 300.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn để bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, căn cứ các Điều 584, 585, 592 Bộ luật Dân sự 2015, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định mức bồi thường hợp lý phù hợp với mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định.
Bị cáo Trần Vương C, người đại diện hợp pháp của bị cáo bà Vũ Kim L không có ý kiến tranh luận bổ sung.
2. Bà Hoàng Thị Thương - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Vi Huyền A trình bày ý kiến tranh luận: Nhất trí với đề nghị luận tội của Kiểm sát viên về hành vi, tội danh, về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt nghiêm, tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng quy định đối với người chưa thành niên phạm tội, để quyết định mức hình phạt như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung; không đề nghị bị cáo bồi thường thiệt hại; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Người đại diện hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại bà Hoàng Minh Th không có ý kiến tranh luận bổ sung.
Kiểm sát viên đối đáp ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Quá trình xét xử gia đình bị cáo đã nộp số tiền 300.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn nên có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt như đã đề nghị đối với bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù nên không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị hại Vi Huyền A vắng mặt có lí do; người đại diện hợp pháp của bị hại Vi Huyền A là ông Vi Bình S vắng mặt có lí do, bà Nguyễn Thị Thu H vắng mặt không lí do; đại diện hợp pháp của Trường THPT C và Trường THCS thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn vắng mặt không có lí do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đinh Văn Th1 vắng mặt không có lí do; bà Bùi Thu O vắng mặt có lí do. Xét thấy những người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Vương C đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người đại diện hợp pháp của bị cáo và bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 11 phút ngày 07-02-2023 tại nhà của bị cáo Trần Vương C thuộc Khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo Trần Vương C có hành vi sử dụng video clip nhạy cảm đe dọa, uy hiếp tinh thần của bị hại Vi Huyền A, sinh ngày 30-01-2009 để cưỡng đoạt số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Vương C đã phạm tội Cưỡng đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Vương C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ của người dưới 16 tuổi, làm ảnh hưởng đến việc học tập và cuộc sống của bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có thể chất phát triển bình thường, có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, thời điểm bị cáo thực hiện hành vi bị cáo là người dưới 18 tuổi, đang là học sinh, chưa có thu nhập nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân; đã tác động người thân thực hiện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 300.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại; quá trình học tập tại Trường THPT C năm học 2022-2023 được nhà trường tặng giấy khen, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng không có.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy tuy bị cáo phạm tội nghiêm trọng, nhưng bị cáo Trần Vương C có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; tại thời điểm phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi, đang là học sinh nhận thức chưa đầy đủ mức độ nghiêm trọng của hành vi; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà xét xử bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo yên tâm cải tạo, học tập, rèn luyện bản thân tại địa phương, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Việc cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hại cho xã hội, không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm mà vẫn đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời thể hiện sự khoan hồng, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, biết ăn năn hối cải.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trần Vương C khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh; tính chất; mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; nhân thân áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận; về mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị chưa phù hợp với nhận định trên nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về bồi thường thiệt hại: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị hại Vi Huyền A và người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Hoàng Minh Th đều không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 300.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại Vi Huyền A và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị xét xử ngày 15-5-2023 người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Vũ Kim L đã tự nguyện nộp 300.000 đồng tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại, để khắc phục hậu quả cho bị cáo Trần Vương C, theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0003908 ngày 15-5-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn, xét thấy đây là sự tự nguyện của gia đình bị cáo, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử xét cần ghi nhận. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bị hại và gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo, gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại gì, không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 300.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại có ý kiến gia đình bị hại từ chối không nhận số tiền 300.000 đồng do người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Vũ Kim L đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn và đề nghị sung ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng này, Hội đồng xét xử cần ghi nhận các ý kiến này của gia đình bị hại.
Đối với anh Đinh Văn Th1 là người nhận số tiền chuyển khoản của cháu Vi Huyền A, do không biết số tiền đó bị cáo Trần Vương C cưỡng đoạt mà có nên không xem xét, xử lý về trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Đối với tài khoản facebook “Hoàng Văn Mạnh (Dâ-m)” là người phát tán video clip nhạy cảm theo lời trình bày của cháu Vi Huyền A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành xác minh. Tuy nhiên không đủ nội dung để tra cứu tìm kiếm, do vậy không đủ căn cứ để xem xét, xử lý, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng hồng, số IMEI: 3594990824962XX, có gắn sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao 0338.932.123, đã qua sử dụng cũ, thu giữ của bị cáo Trần Vương C là công cụ phạm tội, còn giá trị sử dụng cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 300.000 đồng anh Đinh Văn Th1 đã nhận của bị hại Vi Huyền A, đây là tiền công cụ phạm tội, anh Đinh Văn Th1 chưa giao nộp lại trong quá trình điều tra nên cần tịch thu của anh Đinh Văn Th1 số tiền trên, để nộp nhân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo qui định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 170; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; các khoản 1, 2, 5 Điều 65, các Điều 90, 91, 98, 101; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự ; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; mục 3 công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01-10-2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc trao đổi nghiệp vụ.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Vương C phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Vương C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 17 tháng 7 năm 2023. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
3.1.Ghi nhận ngày 15-5-2023 người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Vũ Kim L đã nộp 300.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại Vi Huyền A, theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0003908 ngày 15-5-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Ghi nhận ý kiến của gia đình bị hại về việc không yêu cầu bị cáo Trần Vương C và gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại, trả lại số tiền 300.000 đồng đã chiếm đoạt; không nhận số tiền số tiền 300.000 đồng do người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Vũ Kim L đã nộp, theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0003908 ngày 15-5-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Sung ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng do người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Vũ Kim L đã tự nguyện nộp, theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0003908 ngày 15-5-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
4. Về xử lý vật chứng:
4.1. Tịch thu, nộp nhân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng - hồng, số IMEI: 3594990824962XX, có gắn sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao 0338.932.123 đã qua sử dụng cũ.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 28 tháng 4 năm 2023).
4.2. Tịch thu, nộp nhân sách nhà nước của anh Đinh Văn Th1 số tiền 300.000 đồng.
5. Về án phí: Bị cáo Trần Vương C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo bà Vũ Kim L có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo ông Trần Sỹ N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân huyện C; - Cơ quan điều tra Công an huyện C; - Cơ quan THA hình sự Công an huyện C; - Nhà tạm giữ Công an huyện C; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện C; - Những người tham gia tố tụng; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Thanh Huyền |