- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41 /2023/HS-ST Ngày: 11 - 08 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thanh Mai.
Các Hội thẩm Nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phi Hùng.
2. Ông Lê Văn Phước.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bảy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị T, Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Nguyễn Thị L, Lê Thị L1, Hồ Thị T1; Sinh năm 1967, tại tỉnh Hậu Giang; Nơi thường trú: ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi tạm trú: không có; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn C (chết); Họ tên mẹ: Bạch Thị T2, sinh năm 1934 (già yếu); Chồng, con: không có; Tiền sự: không; Tiền án: 01 lần: Ngày 15/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (thi hành án phí ngày 16/5/2023);
Nhân thân: Ngày 19/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị tạm giữ: ngày 26/04/2023; Tạm giam: ngày 05/05/2023
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại:
1. Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1991; cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp. (vắng mặt)
2. Anh Lê Văn M, sinh năm 1981; cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp. (vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969; cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp. (vắng mặt)
4. Anh Hồ Văn T3, sinh năm 1986; cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp. (vắng mặt)
5. Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1967; cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị Cẩm T4, sinh năm 1988; cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp. (vắng mặt)
2. Ông Trương Văn Ú, sinh năm 1955; cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/4/2023, Nguyễn Thị T, sinh năm 1967, ngụ ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang, sau khi đi xe ô tô khách từ tỉnh Bình Phước về tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo không về nhà ngay mà nảy sinh ý định trộm tài sản bán lấy tiền để tiêu xài. Bị cáo T đón xe buýt từ thành phố V đến thị trấn C, huyện C thì dừng lại, rồi đón xe hon da ôm đi vào địa bàn xã A, huyện C, Đồng Tháp ngủ qua đêm. Đến 2 giờ sáng ngày 23/4/2023, bị cáo vào nhà một người dân không rõ tên và địa chỉ bắt trộm 03 con gà (01 con gà mái, 02 con gà trống) bỏ vào giỏ xách màu đỏ xanh vàng. Đến 05 giờ sáng, T đem gà đến chợ X thuộc ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp bán cho chị Nguyễn Thị Cẩm T4, sinh năm 1988 (tiểu thương bán gà vịt) được 2,7kg, với giá 270.000đ. Sau đó T đến Nhà lưu niệm căn cứ tỉnh ủy Vĩnh Long ở vùng chữ V (gần chợ X) nghỉ ngơi.
Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 24/4/2023, T đi bộ đến ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, trộm của anh Huỳnh Thanh Đ1, sinh năm 1991, 01 con gà trống (gà tre) màu trắng, trọng lượng 1,2kg; trộm của anh Lê Văn M, sinh năm 1981, 01 con gà mái màu vàng, trọng lượng 1,7kg, trộm của ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969, 01 con gà mái màu bông xám, trọng lượng 1,7kg rồi cùng bỏ vào giỏ xách màu xanh vàng đem theo. Đến 5 giờ sáng, T tiếp tục đem gà đến bán cho chị Nguyễn Thị Cẩm T4 được 4,7kg, với giá 470.000đ. Sau đó T đến Nhà lưu niệm căn cứ Tỉnh ủy V nghỉ ngơi.
Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 25/4/2023, T đi bộ đến ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trộm của anh Hồ Văn T3, sinh năm 1986, 04 con gà, gồm 02 con gà mái màu trắng đen, trọng lượng 3kg, 01 con gà mái bông trắng đen, trọng lượng 1,3kg; 01 con gà mái màu vàng, trọng lượng 1,7kg rồi bỏ vào bao ni long màu vàng lấy ở nhà anh T3 đem đi bán. Tuy nhiên, khi đi ra đường thì phát hiện ông Trương Văn Ú đang đi tập thể dục. Thại sợ bị phát hiện nên để bao đựng gà ở lề đường rồi bỏ đi. Ông Ú đi ngang phát hiện bao gà nên đem về nhà nhốt lại để thông báo cho mọi người biết. Sau khi bỏ lại bao gà trộm của anh T3, T tiếp tục đến nhà ông Huỳnh Thanh H ở gần đó trộm tiếp 06 con gà trống và mái, gồm 01 con gà màu nâu đen, trọng lượng 2,05kg, 01 con gà mái màu trắng đen ,trọng lượng 2,1kg, 01 con gà trống màu bông trắng, trọng lượng 2,450kg, 01 con gà trống màu nâu đỏ, đen, trọng lượng 1,5kg, 01 con gà trống màu nâu trắng, trọng lượng 2,3kg, 01 con gà màu bông trắng, trọng lượng 2,05kg, bỏ vào giỏ xách màu xanh vàng. Đến 5 giờ sáng, T tiếp tục đem gà đến bán cho chị Nguyễn Thị Cẩm T4, do nghi ngờ gà trộm được nên chị T4 điện báo Công an xã H đến lập biên bản phạm pháp quả tang và tạm giữ các tang vật có liên quan để làm rõ. Sáng cùng ngày, sau khi các bị hại đến nhận dạng được gà của mình ở nhà ông Ú thì đến Công an xã H trình báo.
Cơ quan điều tra tạm giữ của:
1. Nguyễn Thị T: 01 giỏ xách màu xanh đậm, xanh nước biển, vàng, đỏ, tay xách bằng ống nhựa màu xanh; tiền việt Nam 2.609.000đ, 01 điện thoại Nokia, loại phím bấm, không có sim đã bị hỏng.
2. Anh Huỳnh Thanh Đ1 01 con gà trống (gà tre) màu trắng, trọng lượng 1,2kg
3. Anh Lê Văn M 01 con gà mái màu vàng, trọng lượng 1,7kg
4. Ông Nguyễn Văn S 01 con gà mái màu bông xám, trọng lượng 1,7kg.
5. Chị Nguyễn Thị Cẩm T4: 06 con gà gồm: 01 con gà màu nâu đen, trọng lượng 2,05kg, 01 con gà mái màu trắng đen, trọng lượng 2,1kg, 01 con gà trống màu bông trắng, trọng lượng 2,450kg, 01 con gà trống màu nâu đỏ, đen, trọng lượng 1,5kg, 01 con gà trống màu nâu trắng, trọng lượng 2,3kg, 01 con gà màu bông trắng, trọng lượng 2,05kg.
Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 45, 46/KL-HĐĐGTS ngày 27/04/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C như sau:
1. 03 con gà trọng lượng từ 1,2kg đến 1,7kg, tổng trọng lượng 4,7kg bị cáo T trộm sáng 24/4/2023, trị giá là 470.000 đồng.
2. 10 con gà trống, mái trọng lượng từ 1,3kg đến 2,450kg, tổng trọng lượng 18,7kg mà bị cáo T trộm sáng 25/4/2023, trị giá là 2.113.100 đồng.
Cơ quan Điều tra đã trao trả 13 con gà cho các bị hại gồm: Huỳnh Thanh Đ1, Lê Văn M, Hồ Văn T3, Huỳnh Văn S1 và Huỳnh Thanh H để quản lý sử dụng.
Đối với bị hại ở xã A, Cơ quan điều tra đã có thông báo truy tìm nhưng không có kết quả.
Đối với chị Nguyễn Thị Cẩm T4 không biết các con gà do T phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKS-CT ngày 14/7/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T Phan Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong phần tranh luận giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị:
Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Toà án nhân dân huyện Châu Thành áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xách màu xanh đậm, xanh nước biển, vàng, đỏ, tay xách bằng ống nhựa màu xanh, 01 điện thoại hiệu Nokia, loại phím bấm không có sim đã bị hư hỏng là dụng cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị T nộp lại 740.000đ là số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có sung Ngân sách Nhà nước.
- Tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C quản lý số tiền Việt Nam 2.609.100đ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Thị T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24, 25 tháng 4 năm 2023, bị cáo T đã trộm 13 con gà trống và mái của các bị hại gồm: Huỳnh Thanh Đ1, Lê Văn M, Hồ Văn T3, Huỳnh Văn S1 và Huỳnh Thanh H, tổng trọng lượng 23,4kg, với tổng trị giá là 2.583.100đ; gà trộm được bị cáo mang bán cho chị Nguyễn Thị Cẩm T4, do nghi ngờ gà trộm được, chị T4 điện báo Công an xã H đến lập biên bản phạm pháp quả tang.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Bị cáo trộm cắp tài sản tổng trị giá 2.583.100đ, do đó Cáo trạng tuy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo T có một tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị cáo chưa được xóa án tích thì tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của người khác; ngoài ra nhân thân của bị cáo đã từng 02 lần bị xử phạt hình sự về hành vi trộm cắp tài sản. Điều đó cho thấy bị cáo chưa có nhận thức đúng đắn, trong cuộc sống bị cáo không chịu rèn luyện, cải tạo, sửa chữa hành vi vi phạm pháp luật; bị cáo liên tục có hành vi trộm cắp tài sản của người khác, để bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác trái pháp luật, tuy tài sản trộm không lớn, nhưng hành vi của bị cáo là liều lĩnh, lợi dụng đêm tối 01-02 giờ sáng vào trong sân, bên hông nhà của nhiều người để bắt trộm gà, hành vi của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, phải bị xử lý nghiêm, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải”, nên căn cứ điểm s Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ một hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích bị cáo tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiếp tăng nặng là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng nêu trên, cùng phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo được tiếp tục giáo dục, cải tạo, trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thống nhất Cáo trạng và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xử lý:
- Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xách màu xanh đậm, xanh nước biển, vàng, đỏ, tay xách bằng ống nhựa màu xanh, 01 điện thoại hiệu Nokia, loại phím bấm không có sim đã bị hư hỏng là dụng cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng của bị cáo T.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị T nộp lại 740.000đ là số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có sung Ngân sách Nhà nước.
- Tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C quản lý số tiền Việt Nam 2.609.100đ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 4 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xách màu xanh đậm, xanh nước biển, vàng, đỏ, tay xách bằng ống nhựa màu xanh, 01 điện thoại hiệu Nokia, loại phím bấm không có sim đã bị hư hỏng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị T nộp lại 740.000đ sung Ngân sách Nhà nước.
- Tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C quản lý số tiền Việt Nam 2.609.100đ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Châu Thành; - CA huyện Châu Thành; - Bị cáo, bị hại; - THADS huyện Châu Thành; - Sở tư pháp; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Lê Thanh Mai |