vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 2 Điều 482; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điểm a Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Về hôn nhân:Xử cho chị Hàn Thanh T được ly hôn anh Hoàng Tuấn L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 2 Điều 482; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/ HNGĐ - ST
Ngày: 30/ 3/ 2023
V/v: “ Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Tám

2. Bà Nguyễn Thị Thưởng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đình Tú – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/ 2023/ QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hàn Thanh T - Sinh năm 1993 - Có mặt

Nơi cư trú: SN 02 T Q T, phường Đ B, thành phố T H, Địa chỉ hiện nay: SN 150 T D T, Phường L S, thành phố T H, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Hoàng Tuấn L – Sinh năm 1988 - Vắng mặt

Nơi cư trú: SN 02 T Q T, phường Đ B, thành phố T H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hàn Thanh T trình bày:

Về hôn nhân: Chị Hàn Thanh T và anh Hoàng Tuấn L kết hôn với nhau vào năm 2019, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ B, thành phố T H.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng quan điểm sống, Nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên sảy ra mâu thuẫn chửi bới, xúc phạm lẫn nhau. Quá trình vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải động viên nhiều lần, nhưng không có kết quả.

Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên anh, chị đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị với anh L không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị T và anh L có 01 con chung là Hoàng Ngọc C – sinh ngày 01/3/2020.

Ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản và công nợ: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án và chị T đã liên hệ qua zalo, điện thoại và tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho anh L đến Tòa án viết bản tự khai và tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, nhưng anh L không hợp tác và không đến Tòa án làm việc.

Kết quả thu thập chứng cứ và xác minh tại chính quyền địa phương: Chị T và anh L kết hôn với nhau vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ B, thành phố T H. Cả hai anh chị làm nghề lao động tự do thu nhập cụ thể như thế nào thì chính quyền địa phương không nắm được.

Quá trình chung sống tại địa phương không được hòa thuận, còn nguyên nhân và mức độ như thế nào thì chính quyền địa phương không biết vì không thấy anh, chị báo cáo. Hiện nay anh L, chị T không còn chung sống cùng với nhau nữa, anh L đã chuyển về sống cùng với gia đình anh L tại Phường Đ B, thành phố T H. Nay chị T yêu cầu xin ly hôn với anh L thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh L, nhưng tại phiên tòa anh L vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và vẫn yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Ý kiến của đại diện VKS:

- Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý đến quá trình xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Pháp luật. Riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện VKS đề nghị HĐXX:

Áp dụng:

- Điều 56, 81, 82, và 83 của Luật HNGĐ . Điều 147 của Bộ luật tố tụng hình sự và NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

- Về hôn nhân: Xử cho chị Hàn Thanh T được ly hôn anh Hoàng Tuấn L .

- Về con chung: Chị Hàn Thanh T và anh Hoàng Tuấn L có 01 con chung là cháu Hoàng Ngọc C – sinh ngày 01/3/2020.

Ly hôn, giao cho chị Hàn Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ, cho đến khi cháu C thành niên.

Anh L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét;

- Về án phí: Chị Hàn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thành phố T H, là thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố T H theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn, ianh Hoàng Tuấn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó HĐXX căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh L.

Về hôn nhân: Anh L và chị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống anh, chị sảy ra mâu thuẫn, nên anh, chị đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mặt khác quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh L và liên lạc nhiều lần qua điện thoại, nhưng anh L vẫn không hợp tác và không đến Tòa án trình bày quan điểm của mình và không tham gia phiên hòa giải. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật HNGĐ xử cho chị Hàn Thị T được ly hôn anh Hoàng Tuấn L.

Về con chung: Chị Hàn Thanh T và anh Hoàng Tuấn L có 01 con chung là Hoàng Ngọc C – sinh ngày 01/3/2020.

Hiện nay cháu đang ở với chị T, ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Xét nguyện vọng được nuôi con của chị T là hoàn toàn chính đáng. Mặt khác hiện nay cháu Hoàng Ngọc C đang còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó cần giao cháu Hoàng Ngọc C cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng để ổn định và thuận lợi cho việc sinh hoạt và phát triển của cháu.

Đối với yêu cầu về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Xét việc yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung của chị T là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với thực tế. Do đó cần buộc anh L phải có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 1.500.000đ. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi ly hôn đến khi cháu Hoàng Ngọc C thành niên.

Do đó HĐXX căn cứ vào Điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Hàn Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi ly hôn đến khi cháu Hoàng Ngọc C thành niên.

Anh L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;

Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Hàn Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và anh Hoàng Tuấn L phải chịu án phí về cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS và Điểm a Khoản 5 Điều 27; Điểm a Khoản 6 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 56; Điều 81; 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Điểm a Khoản 2 Điều 482; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điểm a Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Xử:

1.Về hôn nhân:Xử cho chị Hàn Thanh T được ly hôn anh Hoàng Tuấn L.

2. Về nuôi con chung: Chị Hàn Thanh T và anh Hoàng Tuấn L có 01 con chung là Hoàng Ngọc C – sinh ngày 01/3/2020.

Ly hôn, giao cho chị Hàn Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Ngọc C – sinh ngày 01/3/2020. Anh L có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi xét xử ly hôn đến khi cháu Hoàng Ngọc C thành niên.

Anh L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;

3. Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Hàn Thanh T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0002572 ngày 25/11/ 2022 của Chi cục THADS thành phố Thanh Hoá ( Chị T đã nộp đủ tiền án phí).

Anh Hoàng Tuấn L phải chịu án phí về cấp dưỡng định kỳ là 300.000đ;

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hàn Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Anh Hoàng Tuấn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ