vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Di P.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Di P được ly hôn bà Võ Thị Đ. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Phước A, sinh ngày 16/6/2012 cho ông Nguyễn Di P trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 04/9/2016 cho bà Võ Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Di P ly hôn bà Võ Thị Đ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Di P.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNHQUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-7-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Quang Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Song Trà

2. Ông Nguyễn Mạnh Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Quốc Trạng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 108/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2023/QĐXXST-DS ngày 06/6/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Di P, sinh năm 1990.

- Bị đơn: Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1988.

Cùng cư trú tại: Tổ 1, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

(Tại phiên tòa, ông P có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Đ vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Di P trình bày:

Ông và bà Võ Thị Đ sau một thời gian tự nguyện tìm hiểu, sau đó đã được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/11/2011.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 con là cháu Nguyễn Phước A, sinh ngày 16/6/2012 và cháu Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 04/9/2016. Sau đó, hai vợ chồng ông phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về cách sống, việc nuôi dạy con và những mâu thuẫn trong đời sống hàng ngày, nên ông và bà Đ đã nhiều lần có lời qua tiếng lại, tranh cãi to tiếng. Đến đầu năm 2017, bà Đ dẫn theo cháu Nguyễn Nguyên T bỏ nhà đi cho đến nay, để lại cháu Nguyễn Phước A cho ông nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông đã áp dụng nhiều cách thức để tìm kiếm bà Đ và cháu T nhưng không có kết quả. Đến năm 2022, ông đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi tuyên bố bà Võ Thị Đ và cháu Nguyễn Nguyên T mất tích. Đến ngày 15/9/2022 Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi ban hành Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 14/2022/QĐST-VDS tuyên bố mất tích đối với bà Võ Thị Đ và cháu Nguyễn Nguyên T.

Nay, ông yêu cầu Tòa án giải quyết những việc sau:

- Ông yêu cầu được ly hôn bà Võ Thị Đ.

- Về con chung: Ông và bà Võ Thị Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Phước A, sinh ngày 16/6/2012 và cháu Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 04/9/2016. Khi ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước A, giao cháu Nguyễn Nguyên T cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là bà Võ Thị Đ đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi:

- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Di P có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Võ Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Di P và bà Võ Thị Đ tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn, được UBND phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/11/2011, nên hôn nhân của ông Nguyễn Di P và bà Võ Thị Đ là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, ông P và bà Đ xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường hay cãi vã. Đến đầu năm 2017, sau khi cãi nhau bà Đ dẫn theo cháu Nguyễn Nguyên T bỏ nhà đi biệt tích. Ngày 15/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi ban hành Quyết định số 14/2022/QĐST-VDS tuyên bố bà Võ Thị Đ và cháu Nguyễn Nguyên T mất tích. Từ đó đến nay, ông P không có tin tức gì về bà Đ và cháu T. Nay, ông P cho rằng cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được, ông không còn tình cảm với bà Đ, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Đ.

Về phía bà Đ, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Đ theo đúng quy định của pháp luật nhưng bà Đ không có văn bản trình bày và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của ông P. Hội đồng xét xử nhận thấy, để tạo điều kiện cho ông P ổn định cuộc sống, nên chấp nhận yêu cầu của ông P về việc xin ly hôn bà Đ.

Về nuôi con chung: Theo ông P trình bày thì ông và bà Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Phước A, sinh ngày 16/6/2012 và cháu Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 04/9/2016. Khi ly hôn, ông P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước A, giao cháu Nguyễn Nguyên T cho bà Đ nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện nay bà Đ và cháu T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích; mặt khác, tại bản tự khai ngày 30/3/2023, cháu Nguyễn Phước A có nguyện vọng được ở với ông P, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông P, giao cháu A cho ông P nuôi dưỡng, giao cháu T cho bà Đ nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: Theo ông P trình bày không có, bà Đ không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 56, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Di P.

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Di P được ly hôn bà Võ Thị Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Phước A, sinh ngày 16/6/2012 cho ông Nguyễn Di P trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 04/9/2016 cho bà Võ Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Di P và bà Võ Thị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Di P trình bày không có, bà Võ Thị Đ không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Di P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004544 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Ông Nguyễn Di P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ