vanban.org

Bản án 41/2023/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung (Vắng mặt bị đơn)"
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HNGD-ST
Ngày: 21-4-2023
“V/v ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P

TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lưu Thị Thôi

2. Ông Nguyễn Bính

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thùy Chi– Cán bộ Tòa án nhân thành phố P

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 605/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 130/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2023, giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Bà Hồ Tú T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu phố 9, phường Mũi Né, thành phố P, tỉnh B.

Bị đơn: Ông Lưu Vĩnh H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu phố 4, phường Mũi Né, thành phố P, tỉnh B.

Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/8/2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn, bà Hồ Tú T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lưu Vĩnh H tự nguyện tìm hiểu yêu thương và đi đến kết hôn, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mũi Né, thành phố P, tỉnh B vào năm 2012, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16/2012, ngày 28/5/2012.

Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng sau đó do tính tình không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau nên vợ chồng chúng tôi có nhiều mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân là do chồng tôi không có trách nhiệm lo cho gia đình, bạo hành vợ con và còn nhiều vấn đề khác. Chúng tôi đã ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn chung sống cũng như không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau nữa.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn giữa chúng tôi đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lưu Vĩnh H. .

- Về con chung: Chúng tôi có 02 người con chung tên là Lưu Trọng K, sinh ngày 18/11/2010 và Lưu Nguyên A, sinh ngày 23/12/2013.

Sau khi ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và chưa yêu cầu ông Lưu Vĩnh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lưu Vĩnh H: (Vắng mặt).

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về tài sản chung và nợ chung bà T và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết vụ án, bị đơn ông Lưu Vĩnh H có nơi cư trú tại khu phố 4, phường Mũi Né, thành phố P, tỉnh B. Căn cứ theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của Bà Hồ Tú T về việc “Ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố P.

Nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho thấy: quan hệ hôn nhân giữa bà Hồ Tú T và ông Lưu Vĩnh H là hợp pháp vì ông bà chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND phường Mũi Né, Thành phố P, tỉnh B, theo giấy chứng nhận kết hôn số 16/2012, ngày 28/5/2012. Trong quá trình chung sống giữa bà T và ông H phát sinh mâu thuẫn theo bà cho rằng do bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường hay xảy ra bất hòa nhau, không hòa hợp với nhau trong cuộc sống vợ chồng, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, ông bà sống ly thân nhau từ 2020 đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Tú T và ông Lưu Vĩnh H đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường Mũi Né, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 16/2012, ngày 28/5/2012. Qua tự khai và phần trình bày của bà T tại phiên tòa HĐXX nhận thấy đời sống chung của vợ chồng bà T và ông H không được hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Tại phiên tòa hôm nay bà T cho rằng không còn tình cảm với ông H, thực tế hiện nay bà T và ông H hiện đã sống ly thân, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Khi Tòa án thông báo cho ông H biết việc bà T xin ly hôn với ông nhưng ông H vẫn bỏ mặc không quan tâm đến.

Tại phiên toà hôm nay vẫn không có mặt ông H chứng tỏ, ông H đã khước từ quyền tham gia tố tụng của mình, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt ông H là phù hợp, đảm bảo quyền chính đáng, hợp pháp cho bà T.

Nhận thấy việc bà Hồ Tú T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lưu Vĩnh H là hoàn toàn chính đáng. Từ những nhận định trên yêu cầu xin ly hôn của bà T thỏa mãn điều kiện quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên yêu cầu xin ly hôn của bà T được chấp nhận.

Về con chung: Ông, bà có 02 người con chung tên là Lưu Trọng K, sinh ngày 18/11/2010 và Lưu Nguyên A, sinh ngày 23/12/2013.

Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và chưa yêu cầu ông Lưu Vĩnh H cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của bà T là có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Hồ Tú T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P phát biểu quan điểm vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của bà T. Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là hợp lý nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/Áp dụng:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2/Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Tú T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Tú T được ly hôn ông Lưu Vĩnh H.

Về con chung: Ông, bà có 02 người con chung tên là Lưu Trọng K, sinh ngày 18/11/2010 và Lưu Nguyên A, sinh ngày 23/12/2013.

Giao 2 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T chưa yêu cầu ông Lưu Vĩnh H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn ông H và bà T vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Hồ Tú T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0010140 ngày 06/10/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P thu. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của bà Hồ Tú T là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/4/2023). Quyền kháng cáo của ông Lưu Vĩnh H là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ