vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng M được ly hôn với anh Lường Quang T.

Về con chung: Giao con chung là Lường Nguyễn Quang A, sinh ngày 22-4-2020 cho anh Lường Quang T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Chị Nguyễn Thị Hồng M không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng M - Lương Quang T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng M được ly hôn với anh Lường Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-5-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thao.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hương

Ông Hoàng Văn Khiếu

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2023/TLST - HNGĐ ngày 20-02-2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HNGĐ 13-4-2023, thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 18/2023/TBXX ngày 05-5-2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng M, sinh năm 2000.

- Bị đơn: Anh Lường Quang T, sinh năm 1995.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Yên Bái.

Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng M trình bày:

Chị và anh Lường Quang T kết hôn với nhau ngày 17-4-2020 có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện được tự do tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 12-2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Chị M xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh T có một con chung là Lường Nguyễn Quang A, sinh ngày 22-4-2020 hiện đang được anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là anh Lường Quang T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến thể hiện trong hồ sơ vụ án.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

+ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng M được ly hôn anh Lường Quang T

+ Về con chung: Giao con chung là Lường Nguyễn Quang A, sinh ngày 22-4-2020 cho anh Lường Quang T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về án phí: Chị M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Lường Quang T có nơi cư trú tại xã X, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa, chị M vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng M và anh Lường Quang T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái ngày 17-4-2020 là hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy, sau khi kết hôn chị M và anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau. Chị M xác định tình cảm vợ chồng đã hết và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh T. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M, cho chị M được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị M và anh T có một con chung là Lường Nguyễn Quang A, sinh ngày 22-4-2020 hiện đang được anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị M đề nghị anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện chị M và anh T đã ly thân, con chung đang được anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền, lợi ích và đảm bảo sự ổn định cuộc sống của con nên giao cháu Lường Nguyễn Quang A cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không có yêu cầu về phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng M được ly hôn với anh Lường Quang T.

2. Về con chung: Giao con chung là Lường Nguyễn Quang A, sinh ngày 22-4-2020 cho anh Lường Quang T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Chị Nguyễn Thị Hồng M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0003451 ngày 20 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chị M đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự. người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ