vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị N được ly hôn với anh Trần Quốc T.

2/- Con chung: Trần Lê T K, sinh Ny 15/6/2022. Giao Trần Lê T K, sinh Ny 15/6/2022 cho chị N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị N tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị N được ly hôn với anh Trần Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST
Ny: 04-4-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – B

Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thuận

Bà Trần Ngọc Diệu

- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Như Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.

Ny 04/4/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2023/TLST-HNGĐ Ny 31/01/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HNGĐ Ny 07/3/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2023/QĐST-HNGĐ Ny 24/3/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Lê Thị N, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp L, xã L1, huyện G, tỉnh B (vắng có đơn).

2. Bị đơn: anh Trần Quốc T, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp N, xã M, huyện G, tỉnh B (vắng có đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện Ny 04/01/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

Chị và anh T tự nguyện kết hôn vào năm 2022, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã Lương Phú (G, B) vào Ny 13/01/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại ấp N, xã M, huyện G và nảy sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp. Hai bên đã sống ly thân từ Ny 11/02/2022 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai đều không có thiện chí hàn gắn. Hiện tại do hai bên tình cảm không còn, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục và không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh T. Con chung là Trần Lê T K, sinh Ny 15/6/2022 hiện ở với chị, chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Trần Quốc T vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Lê Thị N.

* Tại phiên tòa:

Chị Lê Thị N vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Anh Trần Quốc T vắng mặt không lý do.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

- Về thủ tục:

Sau khi nhận đơn khởi kiện; các tài liệu chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý, Tòa án đã tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo đúng quy định Bộ Luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS) và các văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là VBQPPL) có liên quan. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại các điều 97, 204 BLTTDS và các VBQPPL có liên quan. Các tài liệu chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng quy định. Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS và các VBQPPL có liên quan.

Hội đồng xét xử thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các điều 239, 243, 247, 248, 249, 258, 260 BLTTDS và các VBQPPL có liên quan. Thư ký phiên tòa thực hiện theo đúng, đầy đủ quy định tại Điều 237 BLTTDS và các VBQPPL có liên quan. Hội đồng xét xử, Thư ký không vi phạm quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 71 BLTTDS và các VBQPPL có liên quan. Bị đơn chưa tham gia đầy đủ các phiên họp, hòa giải theo yêu cầu của Tòa án nên chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 72 BLTTDS và các VBQPPL có liên quan. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 BLTTDS vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N về việc yêu cầu ly hôn với anh T cụ thể:

+ Về hôn nhân: chị Lê Thị N được ly hôn với anh Trần Quốc T.

+ Về con chung: giao Trần Lê T K, sinh Ny 15/6/2022 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con, chị N có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của một, cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: chị N trình bày không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục: tại phiên toà, nguyên đơn vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; riêng bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: do chị N và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã Lương Phú (G, B) vào Ny 13/01/2022 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Trong thời gian chung sống, do bất đồng quan điểm nên hai bên phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ Ny 11/02/2022 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai vẫn không thể hoà giải và hàn gắn. Trong quá trình tố tụng, chị N xác định hai bên không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn, giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt; anh T mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia các phiên hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Từ đó có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trần Lê T K, sinh Ny 15/6/2022. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị N và anh T sống ly thân cho đến nay, cháu K vẫn do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định, tính đến thời điểm xét xử cháu K chưa đủ 01 tuổi, anh T cũng không tranh chấp nuôi con. Do đó xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của chị N là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Ghi nhận chị N tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: chị N khai không có nên không xem xét.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị N phải nộp số tiền là 300.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 Ny 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 Ny 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị N được ly hôn với anh Trần Quốc T.

2/- Con chung: Trần Lê T K, sinh Ny 15/6/2022.

Giao Trần Lê T K, sinh Ny 15/6/2022 cho chị N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị N tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3/- Tài sản chung, nợ chung: chị N khai không có nên không xem xét.

4/- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Lê Thị N phải nộp số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000102 Ny 27/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, án phí sơ thẩm, chị N đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 Ny kể từ Ny tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ Ny nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ