- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Lành"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Lành
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:41/2023/HNGĐ-ST Ngày 22/12/2023 V/v “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Bá Đường; 2. Ông Dương Quý Sáng
Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Ngày 22/12/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 132/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc"Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 30/11/2023 và quyết định hoãn phiên tòa ngày 15/12/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Lành; sinh năm 1979; Dân tộc: Kinh
Địa chỉ: Tổ dân phố 9A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Bị đơn: Anh Đào Đức V; sinh năm 1979; Dân tộc: Kinh
Địa chỉ: Tổ dân phố 9A, thị trấn Ph, huyện Ba, tỉnh L
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện; bản tự khai nguyên đơn chị Bùi Thị L trình bày: Chị và anh Đào Đức V kết hôn ngày 19/01/2009, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Hôn nhân dựa trên sự tự nguyện không do bên nào ép buộc. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không thông cảm cho nhau, thường hay đánh, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn xảy ra được chính quyền địa phương, bạn bè khuyên giải nhưng không được. Hiện anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không ai quan tâm đến ai. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Đức V nhằm ổn định cuộc sống sau này của mỗi người.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 người con chung là cháu Đào Anh Kiệt; sinh ngày 18/12/2009. Khi ly hôn chị Bùi Thị Lxin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Anh Kiệt. Không yêu cầu anh Đào phải đóng góp phí tổn nuôi con.
Nghề nghiệp hiện nay của chị Bùi Thị Llàm tự do thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/ tháng.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai anh Đào Đức V trình bày: Anh và chị Bùi Thị L kết hôn 19/01/2009, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Hôn nhân dựa trên sự tự nguyện không do bên nào ép buộc.Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không thông cảm cho nhau, vợ anh thường hay ghen tuông vô cớ nên anh có đánh vợ anh. Mâu thuẫn xảy ra được chính quyền địa phương, bạn bè khuyên giải nhưng không được. Hiện anh chị đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Bùi Thị Lxin ly hôn, anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không nhất trí ly hôn với chị Bùi Thị Lđề nghị được đoàn tụ
Tại bản ghi ý kiến của cháu Đào Anh Kiệt sau khi bố mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng được ở cùng chị Bùi Thị Lành. Không đề nghị anh Đào Đức V cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị Lành, khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết Ly hôn, nuôi con chung với anh Đào Đức V. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn có địa chỉ tại thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Đào Đức V vắng mặt không có lý do chính đáng lần 2. Cần áp dụng điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Lvà anh Đào Đức V kết hôn ngày 19/01/2009, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Hôn nhân dựa trên sự tự nguyện không do bên nào ép buộc. Do vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không thông cảm cho nhau, thường hay cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn xảy ra được chính quyền địa phương, bạn bè khuyên giải nhưng không được. Hiện anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa hôm nay chị Bùi Thị Lđề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Đức V. Xét thấy mâu thuẫn gia đình chị Bùi Thị Lvà anh Đào Đức V đã trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng đã sống ly thân nên cuộc sống chung không thể kéo dài.Vì vậy, cần chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Bùi Thị Lành, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Đức V là phù hợp theo quy định khoản 1 điều 51; Khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 người con chung là cháu Đào Anh Kiệt; sinh ngày 18/12/2009. Khi ly hôn chị Bùi Thị Lxin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Anh Kiệt. Không yêu cầu anh Đào phải đóng góp phí tổn nuôi con.Xét về vấn đề nuôi con thấy rằng: Cháu Đào Anh Kiệt; sinh ngày 18/12/2009 đang ở cùng với mẹ, chị Bùi Thị Llàm tự do có mức thu nhập 15.000.000 triệu/ đồng. Đào Anh Kiệt có nguyện vọng xin ở với mẹ. Do vậy, việc giao con cho chị Bùi Thị Ltrực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với thực tế, thuận tiện cho việc chăm nom cháu trong vấn đề học tập và sinh hoạt của cháu, Anh Đào Đức V tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với điều 81; điều 82; điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng , án phí, lệ phí Tòa án để tính án phí cho các đương sự
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 ; điều 57; điều 81 ;82 ;83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Lành
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Lđược ly hôn anh Đào Đức V. Quan hệ hôn nhân của chị Bùi Thị Lvà anh Đào Đức V chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2.Về con chung: Giao cháu Đào Anh Kiệt; sinh ngày 18/12/2009 cho chị Bùi Thị Ltrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Đào Đức V không phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con. Anh Đào Đức V có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở anh Đào Đức V thực hiện quyền này.
3.Về án phí: Chị Bùi Thị Lphải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002763 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Chị Bùi Thị Lđã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; huyện - Các đương sự; - THADS huyện; - UBND TTP Ràng - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Vân |