- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị Ch đối với anh Triệu Hồng Kh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST Ngày 09 tháng 02 năm 2023 “V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con“ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phúc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Huy; ông Trương Văn Kế.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 02 năm 2023. Tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 445/2022/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2022/QĐXXST
- HNGĐ ngày 29/12/2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Ch, sinh năm: 1987.
* Bị đơn: Anh Triệu Hồng Kh, sinh năm 1982. Đều HKTT: Thôn HN, xã BV, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
( Chị Chcó mặt, anh Kh vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Triệu Thị Ch trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Triệu Hồng Kh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ba Vì, huyện Ba Vì năm 2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại thôn HN, xã BV, tôi và anh Kh chỉ sống hạnh phúc với nhau được khoảng một năm đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra tranh chấp, gia đình hai bên đã khuyên bảo nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Tôi và anh Kh đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2019 đến nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Triệu Hồng Kh.
- Về con chung: Tôi và anh Kh có hai con chung là Triệu Thị Quỳnh H, sinh ngày 06/9/2009 và Triệu Chí Ngọc H1, sinh ngày 10/6/2011. Khi Tòa án giải quyết ly hôn, tôi xin được nhận nuôi cả hai con, không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công sức: Không có.
- Về nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/11/2022, bị đơn Triệu Hồng Kh khai như sau: Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn, nơi vợ chồng chung sống, thời gian vợ chồng sống hạnh phúc đúng như cô Ch trình bày. Nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do cô Ch tụ tập chơi bời, không quan tâm đến gia đình, cô Ch đã nhiều lần tự ý bỏ về bên nhà ngoại sống, tôi đã nhiều lần khuyên bảo nhưng cô Ch không về. Tôi và cô Ch đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay, nay cô Ch làm đơn xin ly hôn, tôi cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, tôi đồng ý ly hôn với cô Ch.
- Về con chung: Tôi và cô Ch có hai con chung như cô Ch trình bày, khi Tòa án giải quyết ly hôn, tôi có nguyện vọng nuôi hai cháu, yêu cầu cô Ch cấp dưỡng 4.000.000 đồng/tháng để tôi nuôi hai cháu (2.000.000 đồng/tháng/01 cháu).
- Về tài sản chung, công sức: Không có.
- Về nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 20/12/2022, cháu Triệu Thị Quỳnh H và Triệu Chí Ngọc H1 trình bày: Chúng cháu là con của mẹ Triệu Thị Ch, bố Triệu Hồng Kh, trong cuộc sống bố mẹ hay xẩy ra mâu thuẫn, nếu mẹ ly hôn với bố, chúng cháu có nguyện vọng ở với mẹ.
Tại phiên tòa, chị Triệu Thị Ch vẫn giữ quan điểm của mình. Về quan hệ hôn nhân: Chị Chxin được ly hôn với anh Kh. Về con chung: Chị Chnhận nuôi hai con, không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng. Về tài sản chung, công sức: Chị Ch xác nhận không có.Về nợ chung: Chị Ch không yêu câu Tòa án giải quyết. Anh Triệu Hồng Kh vắng mặt không có lý do đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Triệu Thị Ch được ly hôn với anh Triệu Hồng Hoa. Về con chung: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao hai cháu Triệu Thị Quỳnh H, sinh ngày 06/9/2009 và Triệu Chí Ngọc H1, sinh ngày 10/6/2011 cho chị Triệu Thị Ch nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Triệu Thị Ch không yêu cầu anh Triệu Hồng Hoa cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Kh đến khi chị Chcó yêu cầu mới. Về tài sản chung, công sức: Cả chị Ch và anh Kh đều thừa nhận không có nên không xét. Về nợ chung: Cả chị Chvà anh Kh đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Triệu Thị Ch phải chịu phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng dân sự: Chị Triệu Thị Ch làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Triệu Hồng Kh, quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Chung, anh Kh đều có hộ khẩu thường trú tại huyện Ba Vì. Theo quy định tại khoản 1 điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Anh Kh vắng mặt không có lý do, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt anh Kh.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Ch và anh Triệu Hồng Kh kết hôn ngày 15/01/2007, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ba Vì, huyện Ba Vì là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc với nhau được một năm đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị Chug, anh Kh bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình, hai anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay. Hội đồng xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Triệu Thị Ch và anh Triệu Hồng Kh đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt nên chấp nhận cho chị Chđược ly hôn với anh Kh là phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Triệu Thị Ch và anh Triệu Hồng Kh đều xác định anh, chị có hai con chung là Triệu Thị Quỳnh H, sinh ngày 06/9/2009 và Triệu Chí Ngọc H1, sinh ngày 10/6/2011. Chị Chcó nguyện vọng được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con, anh Kh cũng có nguyện vọng nuôi hai con, yêu cầu chị Chcấp dưỡng 4.000.000 đồng/tháng để anh Kh nuôi hai cháu (2.000.000 đồng/tháng/01 cháu). Việc nuôi con chưa trưởng thành là trách nhiệm của cha mẹ, xét nguyện vọng nuôi con của chị Chvà anh Kh là chính đáng nhưng hai cháu Hương và Hưởng đều có nguyện vọng ở với chị Chung. Nên áp dụng các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình cần tiếp tục giao cháu Triệu Thị Quỳnh H và Triệu Chí Ngọc H1 cho chị Triệu Thị Ch được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi hai cháu Hương và Hưởng tròn 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác là có căn cứ, đúng pháp luật. Anh Triệu Hồng Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Triệu Thị Ch không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX xét tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Triệu Hồng Kh đến khi chị Chcó yêu cầu mới.
Về tài sản chung, công sức chung: Không có.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Triệu Thị Ch phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 147, các Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 25, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, nộp án phí của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.
Xử: 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị Ch đối với anh Triệu Hồng Kh. Cho chị Triệu Thị Ch được ly hôn với anh Triệu Hồng Hoa.
2/. Về con chung: Có hai con chung là Triệu Thị Quỳnh H, sinh ngày 06/9/2009 và Triệu Chí Ngọc H1, sinh ngày 10/6/2011
Giao cháu Triệu Thị Quỳnh H, sinh ngày 06/9/2009 và cháu Triệu Chí Ngọc H1, sinh ngày 10/6/2011 cho chị Triệu Thị Ch được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi hai cháu H và H1 tròn 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.
Anh Triệu Hồng Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Triệu Hồng Kh đến khi chị Triệu Thị Ch có yêu cầu mới.
3/. Về tài sản chung, công sức: Không có.
4/. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5/. Về án phí: Chị Triệu Thị Ch phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Chđã nộp theo biên lai số AA/2020/0060523 ngày 13/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
6/. Về quyền kháng cáo:
Chị Triệu Thị Ch được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Triệu Hồng Kh được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện - Người tham gia tố tụng - UBND xã Ba Vì. - THA dân sự - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phúc Thịnh |