- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu H và Phạm Văn N"
- Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Phạm Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST Ngày 26-7-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Thôn;
Ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2023/TLST- HNGĐ, ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 580/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 628/2023/QĐST-DS, ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, nơi cư trú: Đường N, tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai, vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn N, nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 3 năm 2023 và các bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị và anh Phạm Văn N kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 11 tháng 11 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại Đường N, tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai sau đó chuyển về sinh sống tại thôn M, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau khi chuyển về sinh sống tại thôn M, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng được khoảng 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có sự thông cảm chia sẻ, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống gia đình ngột ngạt. Chị H đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị H xác định không còn tình cảm với anh N nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn N. Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là Phạm Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2020. Ly hôn chị H đề nghị được nuôi con, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Văn N tại bản tự khai ngày 16 tháng 5 năm 2023 có ý kiến như sau: Anh thừa nhận chị H trình bày về điều kiện kết hôn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung là đúng. Về hôn nhân anh N có ý kiến vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, tự chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên anh không đồng ý ly hôn và đề nghị được đoàn tụ. Về con chung, anh N không có ý kiến gì. Về tài sản chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H đã cơ bản tuân thủ đúng các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phạm Văn N chưa tuân thủ đúng các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Phạm Văn N; về con chung: Giao con Phạm Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị Thu H nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N.Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Thu H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Phạm Văn N, địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phạm Văn N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn N.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 11 tháng 11 năm 2020 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi chuyển về sinh sống tại thôn M, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng được khoảng 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có sự thông cảm chia sẻ, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống gia đình ngột ngạt. Chị H đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Tuy nhiên, anh N khẳng định vợ chồng không có mâu thuẫn lớn nên không đồng ý ly hôn và đề nghị chị H đoàn tụ gia đình. Qua xác minh tại địa phương và gia đình đều xác nhận mâu thuẫn giữa anh, chị do bất đồng quan điểm sống, không có sự thông cảm chia sẻ, anh N mải chơi dẫn đến nợ nần ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Tình trạng mâu thuẫn giữa anh, chị đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H có đơn xin ly hôn anh N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn N có 01 con chung là Phạm Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2020. Ly hôn chị H đề nghị được nuôi con, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Phạm Văn N không có ý kiến về vấn đề con chung. Xét, cháu Ngân chưa tròn 36 tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi…”. Bên cạnh đó, từ khi anh chị ly thân đến nay cháu Ngân sống cùng mẹ, chị H là nhân viên Công ty cổ phần Phúc Hiếu có thu nhập 10 triệu đồng/ tháng và có chỗ ở ổn định. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con Phạm Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị Thu H nuôi dưỡng là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Phạm Văn N.
2. Về con chung: Giao con Phạm Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị Thu H nuôi dưỡng nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001496 ngày 19 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
| Nơi nhận: - TAND TP.Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Các đương sự; - UBND thị trấn C; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |