- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Nguyễn Văn T, bị đơn Vũ Viết N"
- Tòa quyết gì? Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/DS – ST Ngày: 17 – 8 – 2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Di
2. Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.
- Đại diện Viện kiểm sát huyện L tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị H – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2023/TLST – DS ngày 09 tháng 5 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST – DS ngày 14/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-DS ngày 31/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; (có mặt)
Địa chỉ: 2 tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Vũ Viết N, sinh năm 1993; (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông T có quen biết ông Vũ Viết N nên vào khoảng năm 2021, với lý do cần tiền chữa bệnh nên ông N có tìm đến ông T để vay số tiền 50.000.000đ. Do là chỗ quen biết cũng như mục đích mà ông N trình bày là để vay tiền chữa bệnh cho mẹ nên ông T cho ông N vay. Các bên lập giấy vay tiền đề ngày 09/7/2021 (do ông N viết) với nội dung ông N có vay ông T số tiền 50.000.000đ hẹn sau 15 ngày kể từ ngày 09/7/2021 sau khi đi biển vào sẽ trả cho ông N. Tuy nhiên từ thời điểm đó đến nay ông T đã nhiều lần yêu cầu ông N trả nợ nhưng ông N không chịu trả.
Vì vậy ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Vũ Viết N phải trả cho ông T số tiền 50.000.000đ và không yêu cầu tính lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo mời làm việc, thông báo hòa giải nhưng bị đơn ông Vũ Viết N đều vắng mặt và không có ý kiến gì về việc vay trả nợ.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án theo đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng thành phần, tư cách của những người tham gia tố tụng, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, buộc ông Vũ Viết N phải trả cho ông T 50.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Vũ Viết N trả tiền vay; bị đơn đang cư trú tại huyện L nên Tòa án xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Vũ Viết N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.
[2] Về nội dung:
Theo giấy viết tay đề ngày 09/7/2021 ông Nguyễn Văn T cung cấp có nội dung “…em có vay anh T 50.000.000đ, có nhận anh T 50.000.000đ, hẹn 15 ngày từ ngày 09/7/2021 đi” có ký nhận của ông Vũ Viết N. Theo ông T trình bày giấy này do chính ông Vũ Viết N viết và ký. Ông T đã giao đủ số tiền trên cho ông N ngày 09/7/2021.
Tuy nhiên đến nay đã quá hạn trả nợ mặc dù ông T đã đòi nhiều lần nhưng ông N trốn tránh và bất hợp tác, không chịu trả nợ cho ông T. Như vậy ông N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ông T như đã thỏa thuận.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo mời làm việc, thông báo hòa giải tuy nhiên ông N không đến làm việc, cũng không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh trước yêu cầu của nguyên đơn.
Vì vậy, HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, buộc ông Vũ Viết N phải trả cho ông T số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T được Tòa án chấp nhận nên bị đơn ông N phải chịu án phí có giá ngạch được tính trên giá trị tranh chấp là 50.000.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự;
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
Buộc bị đơn ông Vũ Viết N phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Vũ Viết N phải chịu số tiền 2.500.000đ (Hai triệu, năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.250.000đ (Một triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001672 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND huyện Long Điền; - THADS huyện Long Điền; - Các đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Phạm Thị Bình |