vanban.org

Bản án 41/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 16/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thanh B phạm tội “Cướp tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh B 03 (ba) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản đối với bị cáo Huỳnh Thanh B - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HS-ST
Ngày 16 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Phi Hùng

2 Ông Sơn Mứt

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Tiếm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Chí Nhơn – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo: Huỳnh Thanh B, sinh năm 1999, tại Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp DL, xã DN, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tấn K, sinh năm 1969; và bà Đinh Thị Mỹ T, sinh năm 1971; Vợ, con: Không; Anh em ruột có 03 người.

Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần.

+ Ngày 17/7/2020 Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, áp dụng biện pháp xử lý

hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 tháng.

+ Ngày 05/10/2020 Công an thị xã Bình Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản (chưa nộp phạt).

Nhân thân: Ngày 15/01/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 11/4/2019.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã Bình Minh, từ ngày 19/4/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Huỳnh Tấn K, sinh năm 1969 - có mặt

Địa chỉ: tô 3, ấp DL, xã DB, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng:

1. Bà Trừ Thị M, sinh năm 1950 - vắng mặt

2. Chị Đinh Thị Mỹ T, sinh năm 1971 - có mặt

3. Chị Huỳnh Thị Tuyết N, sinh năm 1992 - có mặt

Cùng địa chỉ: ấp DL, xã DB, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Huỳnh Thanh B là con ruột của bị hại ông Huỳnh Tấn K và bà Đinh Thị Mỹ T. Sau khi được đưa đi cai nghiện về từ năm 2020 bị cáo B thường xuyên quậy phá, đập phá tài sản và hay gây sự đánh người thân trong nhà nên ông K, bà T và con gái không dám ở chung nhà với bị cáo mà đến thuê nhà trọ “Thanh Vinh” thuộc ấp DL, xã DB, thị xã Bình Minh, để ở.

Vào khoảng 18 giờ, ngày 02/3/2022, bị cáo B đi từ nhà ra trước sân để chơi Game thì nhìn thấy ông K đang đi từ bên hông nhà ra trước sân (khi đó ông K về nhà để cho gà ăn), ông K chỉ tay về bị cáo và chửi, bị cáo tức giận liền nảy sinh ý định đánh ông K. Bị cáo B chạy đến dùng tay trái nắm ông K lại, dùng tay phải đánh nhiều cái vào mặt và người ông K. Khi bị đánh ông K vùng người lên và lùi ra hướng lộ đal trước nhà, lúc ông K ra khỏi cửa hàng rào thì B buông tay ra. Sau đó B lụm được 01 cục đá nhỏ ở gần lộ đal cầm trong lòng bàn tay phải nắm lại và tiếp tục đánh ông K, lúc này B nảy sinh ý định cướp lấy cái đồng hồ đeo tay của ông K nên vừa đánh B vừa nói và hết lớn tiếng “ông Cum gỡ cái đồng hồ ra cho tui đeo coi”. Trước hành vi và thái độ đe dọa của B, ông K hoãn sợ nên bấm chốt mở khóa đồng hồ đeo tay định đưa cho B để không bị đánh. Lúc ông K vừa mở cửa xong chốt khóa đồng hồ thì B liền dùng tay hai tay tháo lấy chiếc đồng hồ của ông K còn đeo trên cổ tay. Lúc này thì ông thoát ra được và chạy bộ về nhà trọ kể lại sự việc cho con gái là Huỳnh Thị Tuyết N và vợ là bà Đinh Thị Mỹ T biết sự việc, sau đó ông đến Công an xã DB trình báo sự việc. Ngày 03/3/2022 ông K có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với B.

Qua làm việc B thừa nhận hành vi cướp cái đồng hồ đeo tay “nhãn hiệu Citizen chạy pin, có dây bằng kim loại mặt size 36, xuất xứ Nhật Bản” của ông K và giao nộp lại tài sản cho Công an xử lý.

Tại kết quả định giá tài sản đã kết luận: Một cái đồng hồ đeo tay nhãn nhiệu Citizen chạy bằng pin, có dây kim loại mặt size 36, xuất xứ Nhật Bản có giá trị 4.900.000đồng.

Bản cáo trạng số: 30/CT-VKSBM ngày 08/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thanh B về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thanh B thừa nhận hoàn toàn hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh truy tố bị cáo Huỳnh Thanh B về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, khẳng định nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời phân tích các yếu tố cầu thành tội phạm, đánh giá tính chất mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh B phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh B mức án từ 03 (ba) năm tù, đến 04 (bốn) năm tù.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Đối với thương tích của ông K: Ông K bị thương tích nhẹ, ông K từ chối giám định thương tật nên không đặt ra xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đồng hồ đeo tay nhãn nhiệu Citizen chạy bằng pin, có dây kim loại mặt size 36, xuất xứ Nhật Bản là của ông K, sau khi định giá xong Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại nhận lại xong, đề nghị không đặt ra xem xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Huỳnh Tấn K đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị không xem xét.

- Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Thanh B nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo không tranh luận. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi và về việc làm của bị cáo là sai phạm; Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét việc vắng mặt của người làm chứng nhưng đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra, việc vắng mặt người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử; Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người lám chứng.

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bình thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản thu giữ, tạm giữ đồ vật và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện:

Vào khoảng 18 giờ, ngày 02/3/2022, tại ấp DL, xã DB, thị xã Bình Minh, bị cáo Huỳnh Thanh B đang đi bộ từ nhà ra trước sân để chơi Game thì thấy ông Huỳnh Tấn K “cha của bị cáo” đang đi vào tới sân nhà, nghĩ là ông K chửi bị cáo nên tức giận chạy đến đánh nhiều cái vào mặt và người của ông K. Bị đánh ông K vùng lên và lùi ra ngoài phía lộ đal trước nhà. Khi lùi ra khỏi của hàng rào thì bị cáo buông ông ra và lụm 01 cục đá nhỏ ở gần lộ đal cầm trong tay phải. Lúc này bị cáo nảy sinh ý định cướp lấy cái đồng hồ đeo tay của ông nên bị cáo tiếp tục đánh ông K, vừa đánh vừa nói hét lên “ông Cum gỡ cái đồng hồ ra cho tui đeo coi”. Ông K hoãn sợ ên mở chốt khóa đồng hồ ra thì bị cáo B dùng hai tay tháo lấy chiếc đồng hồ còn trên cổ tay ông K. Lúc này, ông K thoát khỏi được sự khống chế, đe dọa của bị cáo nên chạy về nhà trọ và đến Công an xã DB trình báo sự việc và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo . Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Thanh B phạm tội “ Cướp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, bị cáo dùng vũ lực để cướp chiếc đồng hồ có trị giá 4.900.000đồng. Hành vi trên của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật trự, an toàn xã hội ở địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Với mức độ phạm tội này, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo trở thành người có ích và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cầm xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ, nên xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Đây là loại tội phạm ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy, bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả ông Huỳnh Tấn K: 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Citizen chạy bằng pin, có dây bằng kim loại, mặt size 36, xuất xứ Nhật Bản xong.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Tấn K đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu gì thêm, không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Thanh B nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thanh B phạm tội “Cướp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh B 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 19/4/2022.

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2/Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đã trả lại ông Huỳnh Tấn K: 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Citizen chạy bằng pin, có dây bằng kim loại, mặt size 36, xuất xứ Nhật Bản xong.

3/Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Tấn K đã nhận lại đủ tài sản bị mất, không yêu cầu gì thêm, không xem xét.

4/Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Thanh Bình nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5/Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ