- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Thanh S phạm tội "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Thanh S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HS-ST Ngày : 29/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Dung
Các Hội thẩm nhân dân
: Ông Nguyễn Ngọc Hai
Bà Lê Thị Hải
- Thư ký phiên tòa
: Bà Trần Minh Tâm -
là thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:
Bà Tăng Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 5
năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7
năm 2022 đối với bị cáo:
Phùng Thanh S sinh năm: 1994 tại Thành phố H; Hộ khẩu thường trú: 145/38 NT,
phường BT, Quận 1, TP H; Chỗ ở hiện nay: 462/18 CT, Phường 11, Quận B, TP H; nghề
nghiệp: nhân viên giao hàng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn P và bà Lưu Thị H; chưa có vợ
con; tiền sự: không; tiền án: không; bị bắt ngày 24/9/2021; tạm giữ ngày 24/9/2021; tạm
giam ngày 01/10/2021 tại Nhà tạm giữ Công an quận Phú Nhuận (có mặt).
Người bị hại: Bà Lê Thùy L
sinh năm: 1995
HKTT: KDC R2, khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh BD.
Chỗ ở hiện nay: Chung cư V, TA 15, phường TA, Quận X, TP H (có đơn xin xét
xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phùng Văn P
sinh năm 1963.
Chỗ ở hiện nay: 462/18 CT, Phường 11, Quận B, TP H.
(có mặt).
+ Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1984 - Hộ Kinh doanh Phạm Thị T.
HKTT: 273/11 LLQ, Phường 3, Quận M, TP H
Địa chỉ kinh doanh: 707 TC, phường T, quận TP, TP H (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ông Lương Thế H, sinh năm: 1981
HKTT: 273/11 LLQ, Phường 3, Quận M, TP H
Chỗ ở hiện nay: 707 TC, phường T, quận TP, TP H.
(có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/9/2021, Phùng Thanh S điều khiển xe máy hiệu
Hoda Wave, màu xanh, biển số 59F2-261.55 lưu thông trên đường Nguyễn Văn Trỗi hướng về cầu Công Lý, Quận 3, TP HCM. Khi chạy đến trước nhà số 183 Nguyễn Văn Trỗi, Phường 10, quận Phú Nhuận thì S nhìn thấy bà Lê Thùy L đang ngồi trên xe máy dựng ở vỉa hè, tay cầm điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh. S liền nảy sinh ý định cướp giật nên chạy xe lên vỉa hè áp sát bà L, dùng tay trái cướp giật điện thoại di động rồi tăng ga bỏ chạy hưởng về cầu Công Lý trốn thoát. Bà L đến Công an Phường 10, quận Phú Nhuận trình báo sự việc.
Tiến hành truy xét, ngày 24/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú
Nhuận đã bắt giữ Phùng Thanh S.
Tại Cơ quan điều tra, S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài
ra, S khai nhận sau khi cướp giật được điện thoại của bà L, trên đường chạy trốn S nhặt 01 cây tăm xỉa răng để tháo sim điện thoại ra và để sim của mặt sau ốp điện thoại. Sau đó, S chạy đến cửa hàng điện thoại di động tại địa chỉ số 707 TC, phường T, quận TP, TP H để cầm cố điện thoại vừa cướp giật được với giá 10.500.000 đồng. Khi đến cầm cố điện thoại, S không nói là điện thoại do phạm tội mà có nên ông Lương Thế H đã đồng ý nhận cầm cố. S và ông H thống nhất việc cầm cố chỉ 02 ngày, sau đó S sẽ đến chuộc lại điện thoại. Còn nếu quá thời hạn 02 ngày mà S không đến chuộc lại thì ông H toàn quyền định đoạt. Sau đó, S đi về nhà và tiêu xài hết số tiền đã cầm cố điện thoại.
Vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 64 GB màu xanh rêu;
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu xanh biển số 59F2-261.55, số máy:
JA39E-1613837, số khung: RLHJA3917LY275434.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A80 số sê ri: R58M6792RYL;
- 01 nón bảo hiểm màu xanh đen phía trước nón có chữ “De Men Fashion”;
- 01 áo thun tay ngắn, từ ngực trở lên có màu đen, phần dưới màu trắng, đằng sau
áo có chữ “GUCCI”;
- 01 quần Jeans lửng màu xanh;
- 01 đôi dép bằng nhựa màu trắng, lòng dép màu đen.
- 01 USB ghi hình ảnh vụ cướp giật.
Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Phú Nhuận
ngày 27/9/2021 thì 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 64GB màu xanh rêu, đã qua sử dụng có giá trị 19.000.000 (mười chín triệu) đồng.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS.PN ngày 16/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân
quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Phùng Thanh S về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận sau khi phân tích nội dung vụ
án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 20/9/2021, bị cáo S đã có hành vi cướp giật tài sản với tính chất dùng thủ đoạn nguy hiểm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 03
(ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung
đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: người bị hại có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc
điện thoại bị mất là 19.000.000 (mười chín triệu) đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu của người bị hại.
Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu xanh biển số 59F2-261.55, số máy:
JA39E-1613837, số khung: RLHJA3917LY275434: Qua xác minh cho thấy xe này do
ông Phùng Văn P (cha ruột bị cáo) đứng tên sở hữu. Bị cáo khai mượn xe của ông P đi
mua đồ ăn, ông P không biết bị cáo sử dụng xe vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Do
vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho ông P.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A80 số sê ri: R58M6792RYL:
bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị
cáo.
Đối với 01 nón bảo hiểm màu xanh đen phía trước nón có chữ “De Men Fashion”;
01 áo thun tay ngắn, từ ngực trở lên có màu đen, phần dưới màu trắng, đằng sau áo có chữ
“GUCCI”; 01 quần Jeans lửng màu xanh và 01 đôi dép bằng nhựa màu trắng, lòng dép
màu đen: Đây là đồ dùng cá nhân của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không đồng ý nhận lại
nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 USB ghi hình ảnh vụ cướp giật đề nghị lưu vào hồ sơ vụ án .
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phùng Văn P trình bày: Ông xác định
chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu xanh biển số 59F2-261.55 là do ông mua và
đứng tên sở hữu. Ngày 20/9/2021, bị cáo S lấy đi, ông không biết S sử dụng xe máy vào
việc phạm tội. Nay ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho ông được nhận lại chiếc xe
trên để làm phương tiện đi lại.
- Bị cáo S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến
tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận
Phú Nhuận, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Sang đã thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội. Các văn bản tố tụng có trong hồ sơ vụ án như bản tự khai, biên bản lấy lời khai,
biên bản hỏi cung, biên bản đối chất… đều được tiến hành theo đúng quy định, tại các bản
khai, biên bản hỏi cung và các tài liệu khác bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự
nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc
có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng có trong hồ sơ vụ án của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với
nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản xác định địa điểm, hình ảnh trích xuất từ camera... cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 20/9/2021, bị cáo điều khiển xe gắn máy và đã có hành vi cướp giật tài sản của bà Lê Thùy L là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 64GB màu xanh rêu, giá trị 19.000.000 (mười chín triệu) đồng. Như vậy, bị cáo phạm tội với tính chất dùng thủ đoạn nguy hiểm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp
pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong tình hình nạn cướp giật đang ngày càng gia tăng với nhiều thủ đoạn nguy hiểm. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân tốt, đồng tời giúp bị cáo cai nghiện được ma túy.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án,
tiền sự, phạm tội lần đầu. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng trong vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 64 GB màu xanh rêu đã
qua sử dụng: không thu hồi được để trả lại cho bị hại. Người bị hại có đơn yêu cầu bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị mất với số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng. Nhận thấy, đây là yêu cầu bồi thường hợp pháp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu xanh biển số 59F2-261.55, số máy:
JA39E-1613837, số khung: RLHJA3917LY275434: Qua xác minh cho thấy xe này do ông Phùng Văn P (cha ruột bị cáo) đứng tên sở hữu. Bị cáo khai mượn xe của ông P đi mua đồ ăn, ông P không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Do vậy, cần trả lại chiếc xe máy cho ông P.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A80 số sê ri: R58M6792RYL:
bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục giao cơ quan Thi hành án tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 nón bảo hiểm màu xanh đen phía trước nón có chữ “De Men Fashion”;
01 áo thun tay ngắn, từ ngực trở lên có màu đen, phần dưới màu trắng, đằng sau áo có chữ “GUCCI”; 01 quần Jeans lửng màu xanh và 01 đôi dép bằng nhựa màu trắng, lòng dép màu đen: Đây là đồ dùng cá nhân của bị cáó nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo không đồng ý nhận lại. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 USB ghi hình ảnh vụ cướp giật: Cần lưu vào hồ sơ vụ án.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm
tội, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với ông Lương Thế H và bà Phạm Thị T - Chủ hộ kinh doanh Phạm Thị T:
Sau khi hết thời hạn cầm cố, không thấy bị cáo S quay lại, ông H đã bán điện thoại cho
người khác, không rõ địa chỉ. Do không biết chiếc điện thoại do S mang đến cầm cố là tài
sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an quận Phú Nhuận không xử lý hình
sự đối với ông H và bà T là có căn cứ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phùng Thanh S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình
sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phùng Thanh S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày 24/9/2021.
- Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm
2017 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Trả lại cho ông Phùng Văn P 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu xanh biển số
59F2-261.55, số máy: JA39E-1613837, số khung: RLHJA3917LY275434.
Trả lại cho bị cáo S 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A80 số sê ri:
R58M6792RYL nhưng tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án tạm giữ để đảm bảo thi hành
án.
Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu xanh đen phía trước nón có chữ “De Men
Fashion”; 01 áo thun tay ngắn, từ ngực trở lên có màu đen, phần dưới màu trắng, đằng sau
áo có chữ “GUCCI”; 01 quần Jeans lửng màu xanh và 01 đôi dép bằng nhựa màu trắng,
lòng dép màu đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân
sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).
Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại hình ảnh cướp giật.
- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung, năm 2017; các
Điều 357, 468, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo bồi thường cho bà Lê Thùy L số tiền 19.000.000 đồng (mười chín
triệu) đồng.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí
dân sự sơ thẩm 950.000 (chín trăm năm mươi ngàn) đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày bà Lê Thùy L có đơn
yêu cầu bị cáo phải thi hành án khoản tiền bồi thường; nếu bị cáo chậm thi hành thì bị cáo
còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian
chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bị cáo và người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại
phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm
yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP HCM; - VKSND quận Phú Nhuận; - Điều tra Tổng hợp CAQPN; - Chi cục THADS QPN; - Phòng PC 06; - Sở Tư pháp TP HCM; - Người tham gia tố tụng khác; - Bị cáo; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ, VP. Mai | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Thu Dung |