vanban.org

Bản án 41/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 13/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T1- “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội giao cho người không đủ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HS-ST
Ngày: 13-09-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành.

Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 09 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 08 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 08 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1994 tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: khối H, thị trấn P, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: thợ mộc; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 (có đơn vắng mặt);

2. Nguyễn Thị T, sinh năm 1971 (có mặt);

Đồng trú tại: khối H, thị trấn P, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

3. Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 2016 (vắng mặt);

Người giám hộ: Nguyễn Thị T, 1993 (có mặt).

Đồng trú tại: thôn 1, xã B, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. NLQ1, sinh năm 1994 (có đơn vắng mặt).

Trú tại: thôn 3, xã B, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

2. NLQ2, sinh năm 1974 (có đơn vắng mặt).

Trú tại: khối 2, thị trấn P, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Người làm chứng:

1. NLC1, sinh năm 1969 (có mặt);

2. NLC2, sinh năm 1973 (có mặt);

3. NLC3, sinh năm 1991 (có đơn vắng mặt);

4. NLC4, sinh năm 1992 (vắng mặt);

Đồng trú tại: khối H, thị trấn P, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 18/02/2022, Nguyễn Xuân T1 (sinh năm 1994) ở khối H, thi ̣ trấn P, huyê ̣n Tây Sơn, tinh Bỉ

nh Đi ̣̀

nh cùng anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1992), anh Nguyễn Minh T (sinh năm 1991), anh NLC3 (sinh năm 1991) và anh Huỳnh Thanh Anh T (sinh năm 1994) ở cùng đi ̣a phương đến quán Karaoke 558 thuô ̣c khối P, thi ̣ trấn P, huyê ̣n Tây Sơn, tỉnh Binh Đi ̣̀

nh để uống bia và hát karaoke, ta ̣i đây, 05 (năm) ngườ i đa uỗ ́ng hết 01 thùng bia Tiger. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, 05 (năm) ngườ i đến quán Lẩu 04 thuô ̣c khối P, thi ̣ trấn P, huyê ̣n Tây Sơn, tỉnh Binh Đi ̣̀

nh để nhâ ̣u. Khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, T2 điện thoại cho chi ̣ NLC4 (sinh năm 1992) ở cùng đi ̣a phương đến ngồi chơi được khoảng 15 phút thì chị NLC4 sang quán Lẫu Ngon thuộc khối P, thi ̣ trấn P, huyê ̣n Tây Sơn, tinh Bỉ

nh Đi ̣̀

nh với bạn. Ta ̣i đây, cả nhóm uống 6 – 7 chai rượu Vodka loa ̣i 1 (Mô ̣t) lit. Đến khoá

̉ng 19 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm đi về, anh T2 nói với T1: “Để anh chở đi cho”, vì mình đã say và biết rõ T2 cũng đang trong tình trạng say rượu, bia nhưng nghĩ rằng anh T2 còn tỉnh táo hơn nên T1 đồng ý giao xe nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, dung tich: 135 cm3, màu xanh – trắng, BKS 77H1 –́ 119.20 của T1 cho anh T2 điều khiển. Anh T2 điều khiển xe mô tô BKS 77H1– 119.20 chở T1 đến quán Lẩu Ngon thuô ̣c khối P, thi ̣ trấn P gă ̣p nhó m ba ̣n chi ̣ NLC4 để tiếp tu ̣c nhâ ̣u. Khi vào quán, anh T2 giữ chia khoà

́ xe, ta ̣i đây, T1 và anh T2 mỗi người uống 03 (ba) ly bia. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, cả nhó m nhâ ̣u xong và đi về, T1 không nói anh T2 đưa chia khoà

́ xe mà tiếp tục giao cho anh T2 điều khiển xe mô tô BKS 77H1–119.20 chở T1 đi về. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến đoa ̣n đườ ng bê tông nông thôn thuô ̣c khối H, thi ̣ trấn P, huyê ̣n Tây Sơn, tinh Bỉ

nh Đi ̣̀

nh, vì điều khiển xe mô tô trong tình trạng đã say rượu, bia, anh T2 không làm chủ được tay lái, đã tông vào cô ̣t xi măng cổng ngõ của nhà ngườ i dân gây tai nạn. Hậu quả: Anh T2 chết khi đi cấp cứ u ta ̣i Trung tâm Y tế huyê ̣n Tây Sơn, T1 bi ̣ thương và đi cấp cứ u ta ̣i Bê ̣nh viê ̣n Đa khoa tinh Bỉ

̀nh Đi ̣nh. Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận nguyên nhân chết của anh T2: Sốc đa chấn thương. Kết quả xét nghiệm sinh hóa đối với Nguyễn Văn T2: định lượng Ethanol (cồn) [máu] là 294mg/100ml.

Gia đình nạn nhân anh Nguyễn Văn T2 đã có Đơn xin bãi nại về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho T1.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông được mô tả tại biên bản hiện trường, biên bản xác định hiện trường và sơ đồ hiện trường.

Vật chứng Cơ quan CSĐT – Công an huyện Tây Sơn thu giữ được: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, dung tich: 135 cm3, màu xanh –́ trắng, BKS 77H1 – 119.20, số khung: 10DY – 244954, số máy: 55P1 – 244965, Cơ quan điều tra đã giao trả cho chủ sở hữu.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT – VKSTS ngày 22/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T1 về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Bị cáo khai làm nghề thợ mộc, có thu nhập ổn định bình quân mỗi tháng là 7.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T1 phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 264; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ và khấu trừ thu nhập theo quy định.

- Về bồi thường thiệt hại: Đại diện hợp pháp người bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị miễn xét.

Bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, thể hiện:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/02/2022, biết rõ anh Nguyễn Văn T1 đang trong tình trạng có sử dụng nhiều rượu, bia, không đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ nhưng bị cáo Nguyễn Xuân T1 vẫn giao xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, dung tich: 135 cm3, màu xanh – trắng, BKŚ 77H1 – 119.20 cho anh T2 điều khiển chở bị cáo. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến đoa ̣n đườ ng bê tông nông thôn thuô ̣c khối H, thi ̣ trấn P, huyện Tây Sơn, tinh Bỉ

nh Đi ̣̀

nh, anh T2 không làm chủ được tay lái đã tông vào cô ̣t xi măng cổng ngõ của nhà ngườ i dân gây tai nạn. Hậu quả: Anh Nguyễn Văn T2 chết do sốc đa chấn thương. Kết quả xét nghiệm sinh hóa nồng độ còn trong máu đối với Nguyễn Văn T2 là 294mg/100ml. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T1 đã phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 264 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố là có căn cứ.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, không những gây thiệt hại đến tính mạng của anh Nguyễn Văn T2 một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Bị cáo biết rõ T2 đang trong tình trạng đã sử dụng nhiều rượu, bia vượt quá mức quy định nhưng vẫn đồng ý giao xe mô tô cho T2 điều khiển gây tai nạn và anh T2 đã tử vong, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo bằng pháp luật Hình sự để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục.

Bị cáo T1 khai có thu nhập ổn định từ nghề thợ mộc, bình quân mỗi tháng là 7.000.000 (Bảy triệu) đồng nên khấu trừ thu nhập hàng tháng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đương sự không yêu cầu bồi thường gì nên miễn xét.

Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Xuân T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 264; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T1 phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T1 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành hình phạt.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T1 phải khấu trừ thu nhập hàng tháng 10% của 7.000.000đồng = 700.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Tổng số tiền bị cáo phải nộp là 700.000đồng/tháng x 09 tháng = 6.300.000 (Sáu triệu ba trăm nghìn) đồng.

3. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đương sự không yêu cầu bồi thường gì nên miễn xét.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân T1 phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo và các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ khi nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ