- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HS-PT Ngày: 05 - 5- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quảng Lực và bà Từ Thị Hải Dương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Thành, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy, Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình mở phiên toà trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2022/TLPT-HS ngày 29/3/2022 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thành L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1975 tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành S (đã mất) và bà Trần Thị Lệ H (đã mất); có vợ Nguyễn Thị Th (đã ly hôn); có 02 đứa con, đứa lớn sinh năm 2003, đứa nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/4/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thi hành án tại Trại giam Nghĩa An, tỉnh Quảng Trị đến ngày 14/6/2013 ra trại về địa phương; Ngày 20/6/2016 bị Công an thành phố Đồng Hới ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 09/01/2018 bị Công an thành phố Đồng Hới ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 04/3/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 07 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", thi hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Ninh đến ngày 16/5/2019 chấp hành án xong về địa phương cho đến ngày phạm tội. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2021 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất của Tòa án.
Vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/8/2021, Nguyễn Thành L đi xe buýt từ thành phố Đ ra khu vực UBND xã H thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, biển kiểm soát 19R-6245 của bà Võ Thị Th đang dựng ở sân không có người trông giữ, L lấy trộm rồi chạy vào thành phố Đ bán cho tiệm thu mua phế liệu của ông Lê Xuân Th lấy 600.000 đồng tiêu xài cá nhân. Kết luận định giá tài sản số 82/KL-ĐG-HĐ ĐG ngày 14/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bố Trạch kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, biển kiểm soát 19R-6245 có trị giá: 2.000.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 07/12/2021 Nguyễn Thành L đến khu vực UBND xã H lấy trộm xe mô tô BKS 73K5- 3265 nhãn hiệu DEAHAN của ông Hồ D đưa vào thành phố Đ bán cho tiệm thu mua phế liệu của ông Lê Xuân Th lấy 700.000 đồng tiêu xài cá nhân. Kết luận định giá tài sản số 81/KL-ĐG-HĐ ĐG ngày 14/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bố Trạch kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu DEAHAN, biển kiểm soát 73K5- 3265 có trị giá: 800.000 đồng. Vụ việc này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra Công an huyện Bố Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Thành L.
Bản Cáo trạng số 10/CT - VKSBT ngày 26/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 24/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch đã quyết định: Tuyên bố Nguyễn Thành Lâm phạm tội Trộm cắp tài sản; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Nguyễn Thành L 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/12/2021
Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng; về án phí; quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 25/02/2022 bị cáo L làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành L, giữ nguyên mức hình phạt 07 tháng tù đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành L làm trong hạn luật định nên chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận tất cả hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để xác định Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch đã quyết định: bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, đã từng bị xử phạt hành chính và bị Tòa án xử phạt tù, sau khi chấp hành xong các bản án về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình để tu dưỡng đạo đức, làm người có ích cho xã hội mà với lối sống buông thả, ham chơi, muốn nhanh có tiền mà không phải lao động, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của các bị hại và thực hiện hành vi phạm tội một cách liều lĩnh. Hành vi đó của bị cáo cần phải xét xử nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: thật thà khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, đã khắc phục bồi thường thiệt hại được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới nào, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có quá trình nhân thân rất xấu, bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 07 tháng tù là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên phần quyết định hình phạt của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 07 (bảy) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/12/2021.
Quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
2. Về án phí: Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (05/5/2022).
| Nơi nhận - TAND huyện Bố Trạch; - VKSND huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS h Bố Trạch; - Công an h. Bố Trạch; - Phòng HSNVCS CAQB; - Vụ GĐKT I -TANDTC; - Sở Tư pháp Quảng Bình; - UBND phường Đ; - Bị cáo - Lưu Hồ sơ, Tòa HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM: THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA- VKSND tỉnh Quảng Bình; (đã ký) Nguyễn Thái Sơn |