vanban.org

Bản án 41/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LA GI
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2022
V/v: “Ly hôn; Tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phương;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Thơm và bà Đinh Thị Mỹ Hằng;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến -

Thư ký Tòa án;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Bà

Lê Thị Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh

Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:

286/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 về việc "Ly hôn; Tranh chấp

về nuôi con".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/202/QĐST-HNGĐ ngày 13

tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2022/QĐST-HNGĐ ngày

29/8/2022 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Hiệp Lễ, xã Tân Hải, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Thôn Thiện An, xã Thiện Nghiệp, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình

Thuận.

- Bị đơn: Ông Phạm Minh T, sinh năm: 1988(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Hiệp Lễ, xã Tân Hải, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày: Bà và ông Phạm Minh T tự nguyện

tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 30/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Tân

Hải, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn,

không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân nữa. Bà và ông T sống ly thân gần 07

năm nay. Hiện tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà

được ly hôn với ông Phạm Minh T.

Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Thị Như Q, sinh ngày:

07/01/2007 và Phạm Thị Ngọc Qu, sinh ngày: 30/9/2011. Nếu ly hôn, bà yêu

cầu được nuôi cháu Q và giao cho ông T trực tiếp nuôi cháu Qu, không bên nào

phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị H giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày trong

quá trình giải quyết tại Tòa án.

- Bị đơn ông Phạm Minh T: Tòa án nhân dân thị xã La Gi mời nhiều lần,

nhưng ông T không đến làm việc.

Tòa án nhân dân thị xã L nhiều lần tổ chức phiên họp tiếp cận, công khai

chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên ông Phạm Minh T vắng mặt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi cho rằng:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho

đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đúng theo quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà H

được ly hôn với ông T; Về con chung, giao con chung Phạm Thị Ngọc Q, sinh ngày: 30/9/2011 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung Phạm Thị Như Qu, sinh ngày: 07/01/2007 cho ông Phạm Minh T trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung không giải quyết do đương sự không yêu cầu. Bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa; Sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Hội đồng xét xử nhận định:

Thủ tục tố tụng:

- Bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với

ông Phạm Minh T. Ông T có nơi cư trú tại xã Tân Hải, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ông Phạm Minh T đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng

vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Nội dung vụ án:

Hôn nhân:

Bà Lê Thị H và và ông Phạm Minh T đăng ký kết hôn vào ngày

30/3/2011, tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hải, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận nên

hôn nhân giữa ông T và bà H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9

Luật Hôn nhân và Gia đình.

Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bà H khẳng định bà

không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn với ông T. Đối với ông T, mặc dù được

Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng, nhưng ông T không có mặt,

không thể hiện thiện chí muốn hòa giải để đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Đồng thời, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân,

thể hiện “…bà H, ông T không còn sống chung với nhau nhiều năm nay do vợ

chồng mâu thuẫn cãi vả nên bà H về Phan Thiết sống với cha mẹ ruột…”.

Chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn

nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của

nguyên đơn, bà Lê Thị H được ly hôn ông Phạm Minh T.

Về con chung:

Bà H và ông T có 02 con chung là Phạm Thị Như Qu, sinh ngày:

07/01/2007 và Phạm Thị Ngọc Q, sinh ngày: 30/9/2011. Bà H yêu cầu nuôi cháu

Q, giao cháu Qu cho ông Tnuôi dưỡng. Yêu cầu của bà H cũng phù hợp với

nguyện vọng của các con, nên Hội đồng xét xử chấp nhận: Giao cho bà H trực

tiếp nuôi dưỡng cháu Q và giao cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng nuôi cháu Qu,

không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lê Thị H và ông Phạm Minh T có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom,

chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử

không giải quyết.

Án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly

hôn.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều

147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Phạm Minh

T.

2. Về con chung: Bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Ngọc Q, sinh ngày: 30/9/2011. Ông Phạm Minh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Như Qu, sinh ngày: 07/01/2007. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lê Thị H và ông Phạm Minh T được quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm

nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay

đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia

đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005180 ngày 20/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi. Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Bà Lê Thị H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án. Ông Phạm Minh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ