vanban.org

Bản án 41/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Thế Vĩnh T. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Thế Vĩnh T có 3 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Đan Th, sinh ngày 23/6/2003 (đã trưởng thành), cháu Nguyễn Thị Thành Ng, sinh ngày 24/6/2005 và cháu Nguyễn Ngọc Tường V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13/4/2022
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhật

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào

2. Bà Lê Thị Bé Bảy

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thoảng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 480/2021/TLST-HNGĐ ngày 06/12/2021 về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/3/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1982 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Ch, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thế Vĩnh T, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 185A ấp B, xã Tr, thành phố M, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2021 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Chị và anh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2003 tại UBND xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì đến khoảng năm 2015 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không thể hòa hợp. Hai người đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 3 con chung là Nguyễn Ngọc Đan Th, sinh ngày 23/6/2003 (đã trưởng thành), Nguyễn Thị Thành Ng, sinh ngày 24/6/2005 và Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 21/10/2014. Chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu Ng và cháu V, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là anh Nguyễn Thế Vĩnh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo v/v thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho có ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn vắng mặt không lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận. Về con chung: Đề nghị giao cháu Ng, cháu V cho chị H nuôi dưỡng, anh Huyền không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện, chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thế Vĩnh T. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật về tranh chấp “Ly hôn”.

Xét anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T tại phiên tòa.

Về nội dung: Chị H và anh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Hưng, huyện Châu Thành, Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 34, ngày 16/5/2003 là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin được ly hôn với anh T, nguyên nhân là do hai người bất đồng quan điểm sống, mỗi người đều đã có cuộc sống riêng. Xét anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn không có ý kiến phản hồi gì. Qua đó, cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Chị H và anh T có 3 con chung là Nguyễn Ngọc Đan Th, sinh ngày 23/6/2003 (đã trưởng thành), Nguyễn Thị Thành Ng, sinh ngày 24/6/2005 và Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 21/10/2014.

Xét cháu Ng và cháu V hiện đang sống cùng chị H, được chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Theo xác nhận của Trưởng ấp Long Thạnh A, xã Long Hưng, huyện Châu Thành và UBND xã Long Hưng, huyện Châu Thành thì chị H hiện đang chăm sóc các con chung và có nguồn thu nhập ổn định để nuôi con (BL 39, 40), đồng thời căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung và nguyện vọng của cháu Ng và cháu V, Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao cháu cháu Ng và cháu V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Thế Vĩnh T.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Thế Vĩnh T có 3 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Đan Th, sinh ngày 23/6/2003 (đã trưởng thành), cháu Nguyễn Thị Thành Ng, sinh ngày 24/6/2005 và cháu Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 21/10/2014. Giao cháu Ng và cháu V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

2. Án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0004491 ngày 06/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên xem như nộp xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ