vanban.org

Bản án 41/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh L.

Chị A được ly hôn với anh L. Về con chung: Giao cho chị A được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu TNAK, sinh ngày 28-7-2015,. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "An ly hôn Lý"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2022
V/v “ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Phước

2. Ông Ngô Văn Hóa

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Thế Sự - Thư ký Tòa án nhân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thò xaõ Traûng Baøng, tænh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị NTNA, sinh năm 1995; Địa chỉ: khu phố Gia Huỳnh, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh;

2. Bị đơn: anh THL, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp XN, xã DX, huyện DK, tỉnh KH; Tạm trú: khu phố AB, phường AT, thị xã TB, tỉnh TN.

Chị A và anh L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, chị A trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh L chung sống từ năm 2011, tự nguyện không ai ép buộc, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường GL, thị xã TB, tỉnh TN. Sau khi cưới vợ chồng sống chung bên gia đình cha mẹ ruột chị tại ấp GH, xã GL (nay là khu phố GH, phường TB), thị xã TB, tỉnh TN, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 9-2020 thì phát sinh mâu thuẩn do cả hai không tin tưởng lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng, không hợp nhau về tính tình vẫn đến thường xuyên cãi vã nhau, cả hai không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay, anh Lý thuê nhà sống riêng tại khu phố AB, phường AT, thị xã TB, tỉnh TN. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân cả hai không có gặp nhau để bàn bạc hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị yêu cầu ly hôn.

Về con chung: có một con chung K, sinh ngày 28-7-2015, hiện đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: vợ chồng không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại vợ chồng.

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn, anh L: tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16-5-2022, anh Lý trình bày.

Về hôn nhân: như chị An trình bày là đúng, nhưng nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn do kinh tế gia đình gặp khó khăn, cả hai không tinh tưởng lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng, vẫn đến thường xuyên cãi vã nhau, anh thuê nhà sống riêng từ tháng 3-2022 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn. Nay anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị An.

Về con chung: như chị An trình bày là đúng. Anh đồng ý giao cho chị An được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Nguyễn An Khang, sinh ngày 28-7-2015, anh không phải cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị An.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác và xin vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử tại Tòa án các cấp.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án đến khi vào nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh L.

Về con chung: Giao cháu TNAK, sinh ngày 28-7-2015 cho chị A được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn chị A và bị đơn anh L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị A yêu cầu ly hôn. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16-5-2022, anh Lý đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị A, nhưng chị A và anh L đều xin vắng mặt, nên không thể công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị A và anh L được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung TNAK, sinh ngày 28-7-2015, hiện đang sống chung với chị A. Anh L đồng ý giao cho chị A được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục, chị A không yêu cầu anh Lý phải cấp dưỡng nuôi con. Nên chấp nhận là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không giải quyết.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố Tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh L.

Chị A được ly hôn với anh L.

Về con chung: Giao cho chị A được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu TNAK, sinh ngày 28-7-2015,.

Ghi nhận chị A không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không giải quyết.

2. Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: chị A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Ghi nhận chị A đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) từ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015309 ngày 04-5-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, được khấu trừ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các bên đương sự biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường) và nơi cư trú. Nôi nhaän:

Cỡ chữ