vanban.org

Bản án 41/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C ;

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Chí C được ly hôn với bà Nguyễn Thị L. Về con chung: Không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "CUONG LINH"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C ;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18-7-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lan

2. Ông Nguyễn Thế Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Dũng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 303/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí C , sinh năm 1984.

Địa chỉ: ấp H, xã HL, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp 2, xã lộ C, huyện Thống Nhất, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

(Ông Cường, bà L xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn ông Nguyễn Chí C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông C và bà L kết hôn với nhau từ năm 2019, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn, hôn nhân là tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bất đồng về quan điểm sống và lối sống, vợ chồng và gia đình đã nhiều lần cố gắng hòa giải nhưng không đoàn tụ được, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm với bà L không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn với bà L.

Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bị đơn Bà Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và Ông Ckết hôn với nhau từ năm 2019, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn, hôn nhân là tự nguyện. Ông bà chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống và lối sống, hai vợ chồng đã nhiều lần ngồi lại hòa giải nhưng vẫn không hàn gắn đoàn tụ được, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay Ông Cyêu cầu ly hôn thì bà nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện theo đúng quy định. Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Cường, bà L.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của Ông C. Về con chung, về tài sản chung, nợ chung không đặt ra giải quyết. Ông C phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Ông C phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn”; bị đơn đang cư trú tại xã lộ C huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Nguyên đơn ông Nguyễn Chí C và bị đơn bà Nguyễn Thị L đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự giải quyết vụ án theo thủ tục chung, xử vắng mặt ông Cường, bà L.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Chí C và bà Nguyễn Thị L kết hôn với nhau từ năm 2019 và được Ủy ban nhân dân xã HL, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 31 vào ngày 27/5/2019, nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Theo Ông C và bà L đều thừa nhận sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng đã bắt đầu xảy tranh cải và bất hòa. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn lầ do bất đồng về quan điểm sống và lối sống, ông bà đã nhiều lần nói chuyện, tâm sự để vợ chồng thấu hiểu, thông cảm nhau hơn nhưng vẫn không cải thiện được mà mâu thuẫn ngày một trầm trọng hơn, sau nhiều lần cố gắng hòa giải hàn hắn, đoàn tụ không thành, hiện vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022. Nay Ông C xin ly hôn thì bà L xét thấy tình cảm với Ông Ckhông còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L đồng ý ly hôn, đây là sự tự nguyện của các bên và không vi phạm pháp luật nên ghi nhận. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cường.

Về con chung: Theo Ông Cvà bà L trình bày là không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Theo Ông Cvà bà L trình bày là không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Theo Ông Cvà bà L trình bày là không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Cphải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C ;

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Chí C được ly hôn với bà Nguyễn Thị L.

2. Về con chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Ông Nguyễn Chí C phải chịu tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0009341 ngày 03/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ