- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn thị diễm my - huỳnh chí nguyện"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm M được ly hôn với anh Huỳnh Chí Ng.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HNGĐ - ST Ngày: 06-5-2022. V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Đến
Bà Lê Thị Tuyết Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 201/2021/TLST–HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 29 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp N, xã A A, huyện H, tỉnh B. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Chí Ng, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp N, xã A A, huyện H, tỉnh B. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2021 và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, chị Nguyễn Thị Diễm M là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Huỳnh Chí Ng có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh B ngày 25/8/2016. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng không ở chung một nhà với nhau khoảng 01 năm 07 tháng cho đến nay. Nay chị M nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với anh Ng.
Về quan hệ con chung: Chị M xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh Ng có 02 người con chung là cháu Huỳnh Chí Ng, sinh ngày 24/3/2013 và Huỳnh Ngọc M, sinh ngày 19/11/2014. Hiện tại cháu Ng và cháu M đang sống với chị M nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Ng và cháu M và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Diễm M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Huỳnh Chí Ng: Tòa án có tiến hành giao Thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với ông Nguyện nhưng anh Ng không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao Thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh Ng được. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định pháp luật cho anh Ng. Chính quyền địa phươg xác định: Anh Huỳnh Chí Ng vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp N, xã A A, huyện H, tỉnh B và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh Ng có về địa phương một lần.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình;Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn; Về nội dung: Sau khi phân tích yêu cầu khởi kiện, những quy định của pháp luật, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Diễm M được ly hôn với anh Huỳnh Chí Ng. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao các cháu Huỳnh Chí Ng, sinh ngày 24/3/2013 và Huỳnh Ngọc M, sinh ngày 19/11/2014 cho chị M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh Ng được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Diễm M không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Diễm M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Chí Ng và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Huỳnh Chí Ng có nơi đăng ký thường trú tại Ấp N, xã A A, huyện H, tỉnh B nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm M có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị M. Bị đơn anh Huỳnh Chí Ng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Huỳnh Chí Ng, tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Thạnh Lợi A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu ngày 25/8/2016 nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh Ng là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị M với anh Ng có phát sinh mâu do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hiện cả hai không sống chung một nhà thời gian dài nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị M được ly hôn với anh Ng.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị M xác định giữa chị và anh Ng có 02 con chung là cháu Huỳnh Chí Ng, sinh ngày 24/3/2013 và Huỳnh Ngọc M, sinh ngày 19/11/2014. Hiện tại cháu Ng và cháu M đang sống với chị M nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Ng và cháu M hiện đang sống ổn định với chị M và các cháu có nguyện vọng tiếp tục ở cùng chị M nên giao cháu Ng và cháu M cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh Ng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Diễm M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Diễm M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm M được ly hôn với anh Huỳnh Chí Ng.
2. Về con chung: Giao các cháu Huỳnh Chí Ng, sinh ngày 24/3/2013 và Huỳnh Ngọc M, sinh ngày 19/11/2014 cho chị Nguyễn Thị Diễm M tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Huỳnh Chí Ng không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Ng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Diễm M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005990 ngày 29/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay được chuyển thu án phí.
Chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Huỳnh Chí Ng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; - Đương sự; - UBND xã Ninh Thạnh Lợi A; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Tám |