- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 3 - 2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tâm
2. Bà Phan Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên
Trong ngày 31 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 550/2021/TLST-
HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18
tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2022/QĐST-HNGĐ
ngày 11 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An
Giang, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh ngày 19/7/1999
Địa chỉ: Số 396, ấp AQ, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang; địa chỉ liên
hệ: Tổ 21, ấp HH, xã HBT, huyện CT, tỉnh An Giang (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1991
Địa chỉ: Số 396, ấp AQ, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn chị Lê Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh V tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại xã ATT, huyện CM vào ngày 24/12/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng cư trú tại địa chỉ số 396, ấp AQ, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 8/2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh V ăn chơi, cờ bạc, tiêu tán tài sản và gây nợ nần. Chị N đã nhiều lần trả nợ cho anh V. Đến khi Chị N sinh con được 06 tháng (khoảng tháng 11/2021), anh V có đến nhà của mẹ Chị N để ngủ, trong lúc ngủ thì có người phụ nữ lạ điện thoại vào số điện thoại của anh V, khi Chị N cầm điện thoại thì anh V giật điện thoại lại và nói là chủ nợ điện nhưng sau đó thì Chị N biết được đây là người phụ nữ có tình cảm với anh V nhưng Chị N không biết tên. Ngoài những nguyên nhân nêu trên thì không còn nguyên nhân nào khác gây mâu thuẫn giữa vợ chồng. Vợ chồng sống ly thân từ ngày 12/5/2021 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị N yêu cầu được ly hôn với anh V.
- Về con chung: Chị N và anh V có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc
Nh, sinh ngày 12/5/2021, hiện nay con chung đang sống với Chị N từ khi sinh cho đến nay. Sau khi ly hôn, Chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Hoàng V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh V và Chị N tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân
vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại xã ATT, huyện CM vào ngày 24/12/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng cư trú địa chỉ số 396, ấp AQ, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 10 hoặc tháng 11/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do Chị N ghen tuông vô cớ vì sau khi Chị N sinh con thì Chị N về nhà cha mẹ của Chị N để cha mẹ Chị N chăm sóc, khi đến ngày anh V chuẩn bị rướt Chị N về nhà thì anh V qua nhà cha mẹ Chị N ngủ để sáng rướt Chị N về nhà, đêm đó có người bạn gọi điện zalo cho anh V, Chị N nghe máy và nghĩ anh V có tình cảm với người khác nên phát sinh mâu thuẫn và Chị N yêu cầu xin ly hôn với anh V. Từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng ly thân không còn sống chung với nhau nữa. Nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng không lớn, hiện nay anh V vẫn còn thương yêu vợ nên không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nh, sinh ngày
12/5/2021, hiện nay con chung đang sống với Chị N từ khi sinh cho đến nay. Trường hợp Tòa án giải quyết việc ly hôn, anh V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu Chị N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Chị Lê Thị N trình bày: Nguyên nhân Chị N yêu cầu xin ly hôn với anh V
là do anh V có hành vi tham gia đánh bạc, gây nợ nần, làm Chị N phải trả nợ
thay anh V; Chị N đã nhiều lần cho anh V cơ hội để sửa đổi nhưng anh V không
thay đổi tính tình; khi Chị N sinh con thì anh V không thăm nom vợ con; tháng
11/2021 thì anh V có tình cảm với người phụ nữ khác. Nay Chị N yêu cầu được
ly hôn với anh V. Về con chung, yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ
chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Hoàng V vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị N đối
với anh Nguyễn Hoàng V. Chị Lê Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nh, sinh ngày 12/5/2021, anh Nguyễn Hoàng V
không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Lê Thị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tiếp tục chăm sóc,
nuôi dưỡng con chung khi ly hôn đối với anh Nguyễn Hoàng V là tranh chấp về
hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Nguyễn Hoàng V có nơi cư trú tại số 396,
ấp AQ, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với anh Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần
thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ
điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vắng mặt anh Nguyễn Hoàng V.
Về nội dung vụ án:
Đối với quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Hoàng V
kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang ngày 24/12/2019 theo quy định tại
Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật
thừa nhận và bảo vệ. Chị Lê Thị N cho rằng vợ chồng chung sống đến năm 2019
thì phát sinh mâu thuẫn do anh V có hành vi tham gia đánh bạc, gây nợ nần, Chị
N đã nhiều lần cho anh V cơ hội để sửa đổi nhưng anh V không thay đổi tính tình; khi Chị N sinh con thì anh V không thăm nom vợ con, vợ chồng sống ly thân từ ngày 12/5/2021; tháng 11/2021 thì Chị N phát hiện anh V có tình cảm với người phụ nữ khác. Anh Nguyễn Hoàng V thừa nhận năm 2019 có tham gia đánh bạc và gây nợ nần như Chị N trình bày nhưng không ảnh hưởng đến gia đình và hiện nay không còn đánh bạc nữa; trong thời gian Chị N sinh con thì anh V có thăm nom vợ con nhưng do dịch bệnh Covid-19 nên không thường xuyên tới lui thăm vợ con, anh V có gửi tiền phụ giúp vợ nuôi con, anh V không có tình cảm với người phụ nữ khác.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa Chị N và anh V phát sinh từ năm 2019 do anh V
có hành vi tham gia đánh bạc, gây nợ nần. Chị N đã nhiều lần cho anh V cơ hội để sửa đổi tính tình nhưng anh V không thay đổi nên vợ chồng vẫn tiếp tục phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình 02 bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho Chị N, anh V. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho Chị N và anh V nhưng không hòa giải được. Mặt khác, anh V cho rằng còn thương vợ nhưng cũng không có biện pháp tích cực nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa anh V, Chị N và vắng mặt không có lý do chính đáng trong 02 lần mở phiên tòa xét xử vụ án, thể hiện anh V không còn thiện chí níu kéo tình cảm vợ chồng giữa Chị N và anh V. Do đó, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị N và anh V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc Chị N yêu cầu ly hôn anh V phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
Đối với con chung: Chị N và anh V xác định vợ chồng có 01 con
chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nh, sinh ngày 12/5/2021, hiện nay con chung đang sống với Chị N. Khi ly hôn, anh V và Chị N đều có yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, việc giao con chung chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Cháu Nh đang sống với Chị N từ thời điểm vợ chồng sống ly thân nên tình cảm của cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng và cháu Nh hiện nay đang dưới 36 tháng tuổi. Để ổn định cuộc sống cho cháu Nh, yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của Chị N phù hợp với khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh V không phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên không được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N là người trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn nên anh V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có
tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và
gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271
và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn anh Nguyễn Hoàng
V.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 163, ngày 24/12/2019 do Ủy ban
nhân dân xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang cấp cho chị Lê Thị N và anh
Nguyễn Hoàng V không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung:
Chị Lê Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn
Thị Ngọc Nh, sinh ngày 12/5/2021, hiện đang sống chung với chị Lê Thị N.
Anh Nguyễn Hoàng V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Lê Thị N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở
anh Nguyễn Hoàng V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ
quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con,
buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0009828 ngày 10/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Đương sự; - UBND xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |