vanban.org

Bản án 41/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 12/09/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Thanh Th được ly hôn anh Đặng Quốc Kh.

Về quan hệ con chung: Xử giao cháu Đặng Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 01/01/2021 cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Kh có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 9/2022 cho đến khi cháu Đặng Hoàng Quỳnh A đến tuổi trưởng thành. Không ai được qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Thanh Th được ly hôn anh Đặng Quốc Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 9 - 2022
V/v: Ly hôn và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu và bà Hoàng Thị Thoan

Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Vĩnh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Nhung – kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 8 và 12 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 47/2021/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1434/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 1557/QĐST-HNGĐ, ngày 15/7/2022 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 1854/2022/QĐST-HNGĐ giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thanh Th, sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn 2, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Bị đơn: Anh Đặng Quốc Kh, sinh năm 1998

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Hiện cư trú tại: Đài Loan. Vắng mặt tại phiên tòa.

Thân nhân của anh Đặng Quốc Khánh: Bà Hà Thị T, sinh năm 1965 (là mẹ đẻ của anh Kh); địa chỉ: thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị Thanh Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh Đặng Quốc Kh quen nhau được một thời gian thì nảy sinh tình cảm yêu đương. Được sự đồng thuận của hai bên gia đình và chính quyền địa phương, anh chị đã đăng ký kết hôn ngày 10/12/2020 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì anh Kh đi lao động tại Đài Loan, từ đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, nhiều lần lời qua tiếng lại, anh Kh không quan tâm đến vợ con Mặc dù được hai bên gia đình nội ngoại góp ý, động viên vợ chồng hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên rạn nứt tình cảm ngày càng nhiều hơn. Hiện tại chị Th thấy tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn, cuộc hôn nhân không có khả năng hàn gắn, không ai còn quan tâm đến cuộc sống chung nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh Đặng Quốc Kh.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung tên là Đặng Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 01/01/2021. Hiện đang sống cùng với chị Th, nguyện vọng của chị Th sau khi ly hôn là muốn được nuôi con và yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, tại phiên tòa chị Th đề nghị anh Khấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thúy trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đặng Quốc Kh hiện đang làm việc và cư trú tại Đài Loan: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật đối với bị đơn anh Kh thông qua Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc và đăng tin trên hệ thống phát thanh dành cho người nước ngoài VOV5 Đài Tiếng nói Việt Nam nhưng không có kết quả.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26/4/2022, bà Hà Thị T mẹ đẻ anh Kh trình bày: anh Kh và chị Th sau thời gian tìm hiểu và đi đến kết hôn ngày 10/12/2020 tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Trong quá trình chung sống giữa Th và Kh có xảy ra mâu thuẫn, bà cũng đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Nay con dâu Th làm đơn xin ly hôn với con trai bà, bà không có ý kiến gì, hiện nay anh Kh đang làm ăn ở Đài Loan và biết được việc vợ làm đơn xin ly hôn và Kh có điện về cũng đồng ý ly hôn để hai bên sớm ổn định cuộc sống; vợ chồng Kh, Th có 01 đứa con chung hiện đang sống với con dâu.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đảm bảo đúng quy định, đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn;

Về nội dung: đề nghị xử cho chị Th ly hôn anh Kh; về con chung giao cho chị Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Kh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng; chị Th chịu án phí, lệ phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo Công văn số 6652/QLXNC-P5, ngày 31/3/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì anh Đặng Quốc Kh, sinh ngày 13/01/1998 đã xuất nhập cảnh 07 lần, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo phương thức tống đạt đến Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc để tống đạt và thu thập chứng cứ đối với anh Đặng Quốc Kh và đăng tin trên hệ thống phát thanh dành cho người nước ngoài VOV5 Đài Tiếng nói Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 474, Điều 475 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không có kết quả;

Căn cứ Điều 227, điểm b, c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án. Trong quá trình xét xử có một số nội dung cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa ngày 12/8/2022. Sau khi có kết quả xác minh, thu thập chứng cứ, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định.

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: chị Th và anh Kh tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Quảng Bình nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo như chị Th trình bày, quá trình chung sống với nhau hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Kh không quan tâm đến vợ con, cuộc sống vợ chồng bỏ mặc. Chị Th khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn; bà T (mẹ đẻ của anh Kh) cũng xác định giữa chị Th và anh Kh đã có xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Th được ly hôn anh Kh.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có một con chung tên là Đặng Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 01/01/2021. Hiện đang sống cùng với chị Th, chị Th có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con. Xét thấy nguyện vọng của chị Th là chính đáng nên giao cháu A cho chị Th chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình;

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy chị Th yêu cầu anh Khánh cấp dưỡng nuôi con là phù hợp, cần chấp nhận buộc anh Kh cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 9/2022.

[2.3]. Về quan hệ tài sản, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí, lệ phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài: Chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và lệ phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài theo quy định tại khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016; anh Kh phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153; các Điều 227, 228, Điều 469, 474, 475; điểm b, c khoản 5 Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Thanh Th được ly hôn anh Đặng Quốc Kh.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cháu Đặng Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 01/01/2021 cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Kh có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 9/2022 cho đến khi cháu Đặng Hoàng Quỳnh A đến tuổi trưởng thành.

Không ai được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các bên đều có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí, lệ phí: Chị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đồng chị Th đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án tại biên lai số 0004757 ngày 11/10/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình; Chị Th phải chịu 1.967.000 đồng tiền lệ phí tống đạt văn bản tố tụng và đăng thông tin trên VOV5 (đã nộp đủ tại Tòa án).

Anh Đặng Quốc Kh phải chịu nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

5. Án sơ thẩm xử công khai, chị Th có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Kh vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ