vanban.org

Bản án 41/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị T.

Về việc xác định cha cho con: Xác định anh Lê Tô H, sinh năm 1994 là cha đẻ của cháu bé trai (do chị Đỗ Thị T sinh ra) dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017 theo Giấy chứng sinh số 011945, quyền số 121/2017 ngày 17/10/2017 của Bệnh viện Phụ sản H. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ H
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST
Ngày 05-9-2022
V/v tranh chấp xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh T

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị T

Bà Nguyễn Thị Thu H

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức H - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc H - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận N, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T; nơi cư trú: Thôn 4 xã T, huyện T, thành phố H; có mặt

- Bị đơn: Anh Lê Tô H; nơi cư trú: Số 5/4 đường N, phường M, phường L, quận N, H; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lời và nghĩa vụ liên quan: Anh Phùng Bá H; nơi cư trú: Số 2/68 đường H, phường T, quận H, H; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/4/2022, trong bản tự khai, quá trình giải quyết tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày:

Khoảng tháng 10/2015, chị Đỗ Thị T và anh Lê Tô H quen biết và có quan hệ tình cảm với nhau. Trước khi quen biết anh H, chị T có chồng là anh Phùng Bá H; nơi cư trú: nơi cư trú: Số 2/68 đường H, phường T, quận H, H. Do cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không hạnh phúc nên chị T và anh H đã sống ly thân từ năm 2005. Trong thời gian sống ly thân với anh H, chị Đỗ Thị T và anh Lê Tô H đã có một con chung là cháu bé trai dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10/10/2017 theo Giấy chứng sinh số 011945, quyền số 121/2017 ngày 17/10/2017 của Bệnh viện Phụ sản H. Ngày 03/2/2022, Tòa án nhân dân quận H giải quyết cho chị Đỗ Thị T và anh Phùng Bá H ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 24/2022/QĐST-HNGĐ. Do con chung sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T và anh H nên chị T đề nghị Tòa án xác định anh Lê Tô H là cha đẻ của cháu bé trai dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10/10/2017 (do chị T sinh ra); theo Giấy chứng sinh số 011945, quyền số 121/2017 ngày 17/10/2017 của Bệnh viện Phụ sản H

Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Tô H trình bày:

Năm 2015, anh Lê Tô H quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Đỗ Thị T. Khi anh H quen biết với chị T thì chị T đang có chồng là anh Phùng Bá H. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh H không hạnh phúc nên đã sống ly thân. Trong thời gian đó, anh H và chị T có 01 con chung là cháu bé trai dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10/10/2017 (do chị T sinh ra); theo Giấy chứng sinh số 011945, quyền số 121/2017 ngày 17/10/2017 của Bệnh viện Phụ sản H. Đến ngày 03/02/2022, chị T và anh H đã giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận H theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 24/2022/QĐST-HNGĐ. Đến nay, chị T đề nghị Tòa án xác định anh Lê Tô H là cha đẻ của cháu bé trai (do chị T sinh ra) dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10/10/2017, anh đồng ý.

Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phùng Bá H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và vắng mặt hai lần tại phiên tòa, không có lý do nên không có quan điểm thể hiện trong hồ sơ vụ án.

Tại Kết quả xét nghiệm ADN ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Công ty TNHH Dịch vụ y tế & Công nghệ G ADN kết luận: "Người có mẫu ADN ký hiệu Lê Tô H và người có mẫu ADN ký hiệu Lê Tuấn H có quan hệ huyết thống cha - con”.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ cũng như vắng mặt tại phiên tòa hai lần, không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập chứng cứ trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về việc xác định cha cho con: Xác định anh Lê Tô H là cha đẻ của cháu bé trai (do chị T sinh ra) dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10/10/2017 theo Giấy chứng sinh số 011945, quyền số 121/2017 ngày 17/10/2017 của Bệnh viện Phụ sản H.

Về án phí: Anh Lê Tô H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ án tranh chấp xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Lê Tô H cư trú trên địa bàn quận N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận N, thành phố H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của các đương sự:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phùng Bá H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Năm 2015, chị Đỗ Thị T và anh Lê Tô H có quan hệ tình cảm với nhau và đã có 01 con chung là cháu bé trai (do chị T sinh ra) dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10/10/2017 theo Giấy chứng sinh số 011945, quyền số 121/2017 ngày 17/10/2017 của Bệnh viện Phụ sản H. Khi đó, chị T đang có chồng là anh Phùng Bá H. Đến ngày ngày 03/02/2022, chị T và anh H mới giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận H theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 24/2022/QĐST-HNGĐ. Mặc dù, con chung của chị T và anh H sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T và anh H nhưng theo Kết quả xét nghiệm ADN ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Công ty TNHH Dịch vụ y tế & Công nghệ G ADB kết luận: "Người có mẫu ADN ký hiệu Lê Tô H và người có mẫu ADN ký hiệu Lê Tuấn H có quan hệ huyết thống cha- con”.

Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 89; khoản 1 Điều 90; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định cha cho con: Xác định anh Lê Tô H, sinh năm 1985 là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là cháu bé trai (do chị T sinh ra) dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10/10/2017 theo Giấy chứng sinh số 011945, quyền số 121/2017 ngày 17/10/2017 của Bệnh viện Phụ sản H.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị đơn anh Lê Tô H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 1 Điều 90, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị định số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị T.

1. Về việc xác định cha cho con: Xác định anh Lê Tô H, sinh năm 1994 là cha đẻ của cháu bé trai (do chị Đỗ Thị T sinh ra) dự đặt tên là Lê Tuấn H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017 theo Giấy chứng sinh số 011945, quyền số 121/2017 ngày 17/10/2017 của Bệnh viện Phụ sản H.

2. Về án phí:

Bị đơn anh Lê Tô H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Nguyên đơn chị Đỗ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn anh Lê Tô H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phùng Bá H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ