- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K đối với anh Lê Công S về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15-6-2022 “V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đắc Nghĩa;
Ông Đặng Thái Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vinh Sử - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 552/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021 về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 14, Ô 288, khu phố C, thị trấn G, huyện D, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Công S, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ 21, ấp T, xã P, huyện C, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/12/2021 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị K trình bày:
Chị và anh S trước đây là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo Quyết định thuận tình ly hôn số 70/2015/QĐST-HNGĐ ngày 18/3/2015. Sau khi ly hôn anh chị thỏa thuận giao con chung tên Lê Thị Yến N, sinh ngày 03-12-2009 cho anh S nuôi dưỡng vì khi đó anh S nói N đang học trường gần nhà rất tiện, chị phải đi làm công nhân xí nghiệp nên không có thời gian chăm sóc, khi nào chị không làm xí nghiệp nữa thì anh S giao con lại cho chị nuôi. Khi đó chị thấy như vậy cũng hợp lý nên để anh S nuôi con, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Từ khi có vợ cách đây hơn 01 năm thì anh S đánh cháu N nhiều lần, mỗi lần chị đến thăm cháu thì anh S cứ nói N không có ở nhà nhằm mục đích không cho chị thăm. Chị điện thoại hỏi thăm thì anh S không cho gặp, chị có mua cho N 01 điện thoại để liên lạc, học online nhưng anh S cũng lấy sử dụng, không cho N sử dụng và cho N nghỉ học. Trước khi gửi đơn khởi kiện thì cháu N lén mượn điện thoại của người quen liên hệ với chị báo rằng bị cha đánh nhiều lần. Qua điện thoại chị thấy N có biểu hiện bị đánh gây thương tích nên qua đưa N đến Công an xã Tân Phú, huyện Tân Châu trình báo sự việc N bị cha đánh và đưa N về sống với chị. Công an xã Tân Phú không lập biên bản sự việc nhưng có nói chị không yên tâm thì đưa N về trước rồi nộp đơn cho Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con nên chị đưa N về và làm đơn gởi Tòa án cùng ngày 21/12/2021. Ngoài ra, chị nghe N nói thường xuyên bị bỏ đói, phải đi xin ăn nhà hàng xóm. Hàng xóm cũng khuyên chị nên đón cháu về nuôi vì cha và ông nội thường xuyên đánh cháu. Ông nội cũng không cư xử đúng mực với cháu.
Khi chị đưa cháu N về thì một lúc anh S có đến rước N về nhưng N không đồng ý về. Chị nói cứ để N ở đây chơi vài ngày sẽ đưa về, ban đầu anh S chần chừ không về nhưng sau đó cũng ra về. Từ đó đến nay anh S không đến đón N nữa, anh S có điện thoại gặp N nhưng N không gặp, anh S kêu đưa N về đi học nhưng N cương quyết không về vì sợ.
Hiện chị đã có chồng sau và có 02 con, một cháu 04 tuổi và 01 cháu gần 07 tháng tuổi. Chồng chị làm nghề Shiper giao hàng, chị ở nhà làm bánh tráng bỏ mối cho người khác, thu nhập của chị hơn 7.000.000 đồng/tháng, chồng chị thu nhập hơn 10.000.000 đồng/tháng. Chồng chị đối xử tốt với N và nói chị làm đơn xin rước N về nuôi. Anh S cũng có vợ sau, chưa có con với vợ sau, anh S làm nghề phụ đãi đám cưới thuê cho người khác chị không biết thu nhập cụ thể của anh S nhưng công việc cũng không ổn định vì có đám cưới người ta mới kêu làm, không có đám cưới thì ở nhà. Vợ anh S là thợ nấu, làm chung với anh S.
Nay chị yêu cầu anh S giao cháu N lại cho chị nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Chị cam kết sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng N thật tốt, cho N đi học lại.
Bị đơn anh Lê Công S trình bày:
Anh thống nhất với lời trình bày của chị K về thời gian ly hôn và thỏa thuận nuôi con sau khi ly hôn, không đồng ý với yêu cầu của chị K về thay đổi người trực tiếp nuôi con do từ khi giao cháu N cho anh nuôi dưỡng đến nay thì cháu N được nuôi dưỡng tốt, được ăn học đầy đủ, điều kiện nuôi dưỡng con của anh tốt hơn chị K vì chị K hiện nay đã có chồng và 02 người con, trong đó có 01 người con mới sinh được khoảng 07 tháng. Từ ngày chị K đón cháu N về bên đó đến nay chị K cũng chỉ gửi ngoại nuôi dưỡng cháu chứ chị K cũng không trực tiếp nuôi con và cháu N cũng không được đi học.
Chị K trình bày không đúng sự thật, anh thừa nhận có đánh cháu N 02 lần, một lần do cháu N đi qua bên ngoại chơi về thì có lấy quần áo của vợ anh cắt phá hết, anh có hỏi lý do vì sao con làm vậy thì cháu không trả lời nên mới đánh. Lần thứ hai là do cháu đi qua nhà ngoại nhưng không xin phép anh. Ngoài ra, anh không đánh cháu lần nào nữa. Anh không ngăn cấm hay cản trở việc thăm nom con chung của chị K, chỉ nói chị K đến thăm hoặc rước con vào cuối tuần. Anh đi làm thì cháu ở nhà với ông nội, ông nội cũng yêu thương cháu nên không có chuyện anh bỏ đói cháu. Từ khi chị K rước cháu N về nhà đến nay anh có đến thăm mấy lần nhưng gia đình chị K ngăn cản, lấy mọi lý do để không cho anh đến đưa cháu về. Anh gọi điện thoại gặp cháu N thì anh trai của chị K còn hăm dọa anh không cho anh gặp. Hiện nay hoàn cảnh của anh đã có vợ được khoảng 03 năm nay nhưng chưa có con. Hiện anh đang làm nghề nấu ăn cho tiệm Anh Đào Kỳ Quang, vợ anh hiện tại cũng vậy. Thu nhập hàng tháng của anh là 8.000.000 đồng và các tiền phụ cấp khác tổng cộng khoảng 10.000.000 đồng. Vợ sau của anh cũng không la mắng hay đánh đập gì cháu N. Do đó anh không đồng ý theo yêu cầu của chị K.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xét xử theo hướng:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K đối với anh S. Giao cháu N cho chị K nuôi dưỡng, ghi nhận chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
+ Ghi nhận chị K tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị K, anh S vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị K, anh S.
Về nội dung tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, chị K yêu cầu được nuôi cháu Lê Thị Yến N, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh S không đồng ý với yêu cầu của chị K.
Xét yêu cầu và lời trình bày của anh chị thấy rằng: Tại thời điểm chị K và anh S ly hôn có thỏa thuận giao cháu N cho anh S nuôi dưỡng vì khi đó cháu N đang đi học ổn định ở xã Tân Phú, chị K phải đi làm công nhân xa nhà là tự nguyện và phù hợp với hoàn cảnh lúc đó.
Đến nay, cháu N đã sống chung với chị K từ ngày 21/12/2021 và có nguyện vọng tiếp tục được sống chung với chị K, không đồng ý về sống với anh S nữa. Cháu N xác nhận sống với chị K tốt hơn với anh S là do cháu tự cảm nhận, không bị ai ép buộc, dụ dỗ.
Cháu N là con gái, đang tuổi phát triển về thể chất, tâm sinh lý nên ở góc độ này đặc biệt rất cần có sự thường xuyên quan tâm, chăm sóc của người mẹ vì có những việc người cha không làm tốt bằng mẹ. Anh S đã có vợ khác, mặc dù chưa có con với người vợ sau nhưng công việc của anh, chị đòi hỏi phải đi làm từ sáng đến tối mới về nên việc quan tâm, chăm sóc cháu N sẽ không được đảm bảo. Anh S thừa nhận có đánh cháu N 02 lần là có hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em, làm cháu N có tâm lý lo sợ dẫn đến việc không còn muốn về sống với anh S nữa. Tuy chị K cũng đã có chồng khác, có con với người chồng sau nhưng chị làm việc tại nhà có thu nhập ổn định, chồng chị K cũng đối xử tối với cháu N, cháu N sống với chị K sẽ thuận tiện cho việc quan tâm, chăm sóc hơn so với anh S.
Từ những nhận định trên, căn cứ vào tình hình thực tế cháu N là con gái đang tuổi phát triển về thể chất, tâm sinh lý cần sự thường xuyên quan tâm, chăm sóc của người mẹ, cháu đang sống với chị K rất tốt, có nguyện vọng được sống với chị K và chị K có yêu cầu được nuôi cháu N. Anh S có hành vi bạo lực gia đình đối với cháu N và điều kiện để thường xuyên quan tâm, chăm sóc cháu không tốt bằng chị K. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa và quyền lợi về mọi mặt của cháu N cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K là phù hợp. Giao cháu N cho chị K nuôi dưỡng, ghi nhận chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về án phí: Chị K tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình nên cần ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K đối với anh Lê Công S về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao cho chị Nguyễn Thị K được trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Yến N, sinh ngày 03-12-2009; ghi nhận chị Nguyễn Thị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Lê Công S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
2- Về án phí: Chị Nguyễn Thị K tự nguyện chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006984 ngày 29/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị Nguyễn Thị K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho chị K, anh S biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Đương sự; -Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; -UBND xã; -Lưu hồ sơ; -Lưu tập án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |