- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Vòng Lỷ S. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 256/2022/HNGĐ-ST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI ----- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HNGĐ-PT Ngày:07/12/2022 V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng
Các Thẩm phán:
Bà Bùi Lan Hương
Ông Nguyễn Trung Hưng
- Thư kýphiên tòa: Bà Phạm Thị Út – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:Bà Vũ Thị Mỹ Liên– Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sởTòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 34/2022/TLPT- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung”.
Do bản án hôn nhân gia đìnhsơ thẩm số 256/2022/HNGĐ-ST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòabị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số41/2022/QĐ-PT ngày 14/11/2022 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông Vòng Lỷ S, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp X, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh S: Luật sư Lê Thị Tú O và luật sư Dương Văn Ô– Văn phòng luật sư Dương Văn Ô (Địa chỉ: S, khu phố K, phường BĐ, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai) - Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai.
2.Bị đơn:Bà Nguyễn Xuân TH , sinh năm 1995. Địa chỉ: số nhà K, khu phố H, phường BL, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
3. Người kháng cáo: Ông Vòng Lỷ S, sinh năm 1993.
(Ông S, bà TH , bà O có mặt, ông Ô vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm nội dung vụ án tóm tắt như sau:
-Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2022, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Vòng Lỷ S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Xuân TH tự nguyện yêu nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai (Giấy chứng nhận kết hôn số 211/2019 cấp ngày 16/12/2019). Thời gian đầu hôn nhân, chúng tôi sống vui vẻ, hạnh phúc và có một con chung. Tuy nhiên, sống chung được một thời gian, đến đầu năm 2022, tôi và vợ thường xuyên mâu thuẫn về quan điểm sống, xảy ra những bất hòa trong sinh hoạt mà không thể nào giải quyết được. Tôi đã cố gắng hàn gắn với vợ để cùng chung sống nhưng những bất đồng giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, do vậy cả hai chúng tôi rơi vào tâm trạng lo âu, buồn phiền dẫn đến đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi làm đơn yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Xuân TH .
Về con chung: chúng tôi có 01 người con chung: Vòng Đạt PH ; sinh ngày 03/6/2020. Hiện nay con đang sống cùng ông bà nội tại xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu bà TH cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay tôi đang làm việc tại văn phòng UF lương bình quân 19.000.000đ/tháng nên có khả năng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Xuân TH trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Vòng Lỷ S tự nguyện yêu nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai (Giấy chứng nhận kết hôn số 211/2019 cấp vào ngày 16/12/2019). Thời gian đầu hôn nhân, chúng tôi sống vui vẻ, hạnh phúc và có một con chung. Tuy nhiên, sống chung được một thời gian, đến khoảng tháng 3 năm 2022, tôi và chồng thường xuyên mâu thuẫn về quan điểm sống, xảy ra những bất hòa trong sinh hoạt mà không thể nào giải quyết được. Tôi đã cố gắng hàn gắn với chồng vì con nhưng nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt, tình cảm không còn nên tôi đồng ý ly hôn với ông S.
Về con chung: Chúng tôi có một con chung là Vòng Đạt PH sinh ngày 03/6/2020. Hiện tại, cháu PH dưới 03 tuổi và đang ở với ông bà nội nhưng ông bà ngăn cản không cho con về thăm ngoại. Hơn nữa, nhận thấy mình có đủ khả năng về vật chất lẫn tinh thần để nuôi dưỡng cháu PH đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành nên tôi kính mong Toà trao cho tôi quyền nuôi con, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Hiện tôi đang làm việc tại công ty TNHH MTV sản xuất NT, mức lương 8.500.000đ/tháng nên nhận thấy có đủ khả năng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại bản án sơ thẩm số 256/2022/HNGĐ-ST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòacăn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm akhoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vòng Lỷ S đối với bà Nguyễn Xuân TH .
1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Vòng Lỷ S và bà Nguyễn Xuân TH .
2. Về con chung: Có một con chung là cháu Vòng Đạt PH sinh ngày 03/6/2020.Giao cháu PH cho bà Nguyễn Xuân TH trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông Vòng Lỷ S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
- Ngày 10/8/2022,bị đơn ôngVòng Lỷ S nộp đơnkháng cáo ghi ngày 05/8/2022, nội dung: kháng cáomột phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩmxem xét giao cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng con Vòng Đạt PH .
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được giao nuôi con chung. Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên không thương lượng hay thỏa thuận gì khác. Các bên không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì mới.
Ý kiến của luật sư O: Hiện nay bà TH đã nghỉ việc, không có việc làm, không có chỗ ở ổn định và ngăn cản cha thăm con. Cháu PH từ nhỏ sống với nhà nội, mặt khác ông S là người có thu nhập ổn định, luôn lo lắng chăm sóc con nên ông S là người có điều kiện nuôi cháu PH tốt hơn chị TH . Đề nghị HĐXX xem xét yêu cầu được nuôi con của ông S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án: Con chung cháu Vòng Đạt PH hiện nay dưới 36 tháng tuổi và giữa ông S, bà TH không thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con nên Tòa án cấp sơ thẩm giao con chung cho mẹ là bà TH nuôi là đúng quy định. Ông S kháng cáo yêu cầu được giao quyền nuôi con chung là cháu PH nhưng không đưa ra được chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình nên đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Luật sư Ô có đơn xin vắng mặt hợp lệ nên chấp nhận. Đơn kháng cáo của ông Vòng Lỷ S làm trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án, đương sự trong vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ.
Xét yêu cầu kháng cáo củaông Vòng Lỷ S:Ông Vòng Lỷ S và bà Nguyễn Xuân TH là vợ chồng hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 211/2019 cấp vào ngày 16/12/2019). Quá trình chung sống, ông bà có một người con chung là cháu Vòng Đạt PH , sinh ngày 03/6/2020 (tính đến nay cháu chưa đủ 36 tháng tuổi). Nay ông bà thuận tình ly hôn, tuy nhiên cả ông S và bà TH đều có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu PH . Xét điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con thấy rằngông S và bà TH đều là người đang có công việc ổn định, có thu nhập riêng và đều có nguyện vọng được nuôi con. Cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”quyết định giao cháu PH cho mẹ là bà TH trực tiếp nuôi dưỡng.Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, ông S là người kháng cáo về việc xin được nuôi cháu PH đã không giao nộp được chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của ông nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở xem xét yêu cầu này của ông S. Việc cấp sơ thẩm quyết định giao cháu Vòng Đạt PH cho mẹ là bà Nguyễn Xuân TH trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.
Các vấn đề khác trong vụ án do không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa không xem xét.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông S phải chịu án phí phúc thẩm.
Đối với ý kiến của luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông S không có căn cứ và không phù hợp quy định pháp luật nên không chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Vòng Lỷ S. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 256/2022/HNGĐ-ST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, , Điều82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vòng Lỷ S đối với bà Nguyễn Xuân TH .
1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ôngVòng Lỷ Svà bà Nguyễn Xuân TH .
2. Về con chung: Có 01 con chung là cháuVòng Đạt PH sinh ngày 03/6/2020.Giao cháu PH cho bà Nguyễn Xuân TH trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ôngVòng Lỷ S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ông Vòng Lỷ S không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và/hoặc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Các bên khai tự thoả thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Các bên khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí, lệ phí:
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Vòng Lỷ S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên lai thu số 0003278 ngày 15/6/2022.
- Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Ông S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông S đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003818 ngày 18/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử Bùi Lan Hương Nguyễn Trung Hưng | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Phượng Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Thanh Phượng |