- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (TR) phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2021/HSST Ngày: 18/6/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Trình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hổ;
2. Ông Trần Văn Hưng.
-Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Yến là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Trương Phạm Duy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (TR), sinh năm 1955 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp BC, xã BP, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Lái xe ôm; Trình độ văn hóa: 04/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); Sống chung như vợ chồng với Hồ Thị Bé T1, sinh năm 1968; Con: Có 01 người con sinh năm 2008; Tiền sự: Quyết định số 87/QĐ-XPVPHC ngày 26/3/2019 của Công an thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2021, đến ngày 16/3/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt)
* Bị hại:
Phạm Quốc T2, sinh năm 1997;
Nơi cư trú: Ấp GH, xã TL, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Lê Văn Kiểu E, sinh năm 1992;
Nơi cư trú: Ấp A, xã TH, huyện GT, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Phạm Tấn T3, sinh năm 1984;
Nơi cư trú: Ấp TX, xã TT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
* Người chứng kiến:
Lê Thanh H, sinh năm 1974;
Nơi cư trú: Ấp TT, xã TT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 13/03/2021, bị cáo Nguyễn Văn T đi vào bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tọa lạc tại Phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre với mục đích tìm tài sản để lấy trộm. Khi đi ngang trước phòng số 04 – Khoa sản thì bị cáo T thấy anh Phạm Quốc T2 đang để 01 điện thoại di động hiệu Oppo, A9 2020, màu xanh trắng trên giường bên ngoài hành lang sạc pin và đi vào chăm sóc vợ đang nằm trong phòng số 04 nên liền đến rút chuôi sạc, lấy điện thoại di động của anh T2 bỏ vào túi quần phía trước bên trái rồi tẩu thoát thì bị anh T2 đi ra phát hiện cùng mọi người truy đuổi đến gần khu vực Nhà đại thể của Bệnh viện thì bắt giữ được bị cáo T cùng tang vật và trình báo Công an Phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo T.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 234/KL-HĐĐG ngày 13/03/2021 của Hội đồng định giá thành phố Bến Tre kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, màu xanh trắng, số Imei 1: 866967044829953, số Imei 2: 866967044829946 (đã qua sử dụng), trị giá tài sản ngày 13/03/2021 là 2.600.000 đồng.
- 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng, trị giá tài sản ngày 13/03/2021 là 10.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 34/CT-VKSTPBT ngày 05 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
- Về tội danh và hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo T từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng do bị cáo không có thu nhập ổn định.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho bị hại T2 tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, màu xanh trắng, số Imei 1: 866967044829953, số Imei 2: 866967044829946 (đã qua sử dụng) và 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng, hiện bị hại T2 không yêu cầu gì thêm.
Bị cáo T khai nhận vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 13/03/2021, bị cáo vào Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi ngang trước phòng số 04 – Khoa sản thì bị cáo thấy anh T2 đang để 01 điện thoại di động hiệu Oppo, A9 2020, màu xanh trắng trên giường bên ngoài hành lang sạc pin và đi vào chăm sóc vợ đang nằm trong phòng số 04 nên liền đến rút chuôi sạc, lấy điện thoại di động của anh T2 bỏ vào túi quần phía trước bên trái rồi tẩu thoát thì bị anh T2 đi ra phát hiện cùng mọi người truy đuổi đến gần khu vực Nhà đại thể của Bệnh viện thì bắt giữ được bị cáo cùng tang vật. Bị cáo đồng ý với kết quả định giá tài sản, không khiếu nại gì đối với các hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Phạm Quốc T2 trình bày: Anh nuôi bệnh tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu. Anh để điện thoại sạc pin, trong lúc anh chăm sóc bệnh thì bị mất trộm. Anh chạy theo bị cáo lấy lại tài sản và báo bảo vệ bệnh viện mời công an đến lập biên bản. Anh đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Người làm chứng anh Lê Văn Kiểu E trình bày: Anh chứng kiến sự việc khi bị hại nhờ anh giữ bị cáo lại để bị hại đi báo bảo vệ bệnh viện. Sau đó, bảo vệ đến mời bị cáo đến phòng bảo vệ và báo công an đến giải quyết vụ việc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Việc vắng mặt của người làm chứng và người chứng kiến, bị cáo T không có ý kiến, Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những người này. Xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này là phù hợp theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo T tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với kết quả thực nghiệm điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 13/03/2021, tại Khoa sản Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu ở Phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, bị cáo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại T2 01 điện thoại di động hiệu Oppo, A9 2020, màu xanh trắng, trị giá 2.600.000 đồng và 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng, trị giá 10.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo T chiếm đoạt của bị hại là 2.610.000 đồng.
Bị cáo T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ vụ lợi bị cáo đã cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại T2 có giá trị 2.610.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
Bị cáo T phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu tài sản vắng mặt để thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, sinh hoạt hằng ngày.
Về nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân, bị cáo T có nhân thân xấu. Bị cáo bị bắt giáo dục cải tạo về hành vi “Cướp tài sản của công dân”, “Cướp giật tài sản”; bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo còn nhiều lần bị kết án về các tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, “Trộm cắp tài sản”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo T được hưởng là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo và gia đình có công với cách mạng theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo T không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho bị hại T2 tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, màu xanh trắng, số Imei 1: 866967044829953, số Imei 2: 866967044829946 (đã qua sử dụng); 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, màu xanh trắng, số Imei 1: 866967044829953, số Imei 2: 866967044829946 (đã qua sử dụng); 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng và hiện không yêu cầu gì thêm.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh; điều luật áp dụng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T phải nộp theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (TR) phạm tội “Trộm cắp tài sản”
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (TR) 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2021.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho bị hại Phạm Quốc T2 tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, màu xanh trắng, số Imei 1: 866967044829953, số Imei 2: 866967044829946 (đã qua sử dụng); 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Ghi nhận bị hại Phạm Quốc T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, màu xanh trắng, số Imei 1: 866967044829953, số Imei 2: 866967044829946 (đã qua sử dụng); 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng và hiện không yêu cầu gì thêm.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn T (TR) phải nộp là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THADS thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã BP, TP BT, tỉnh Bến Tre (1b); - Bị cáo, bị hại (2b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (2b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Ngô Văn Trình |