- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Công Thức - Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Công Th (tên gọi khác: T) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2021/HS-ST Ngày 30 tháng 3 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phú Tra
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Tuất
Bà Đào Thị Giang
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2021/HSST ngày 08 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Công Th (tên gọi khác: T), sinh năm: 1993 tại Đồng Nai; hộ khẩu thường trú: Khu 3, ấp TA, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công T và bà Võ Thị L; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án (03): Ngày 07/7/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2013; Ngày 15/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/01/2016; Ngày 11/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/10/2020; bị cáo bị giam giữ từ ngày 27/11/2020 đến đến nay (có mặt).
- Bị hại: Chị Trần Thị Kim N, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Ấp 2, xã L, huyện TN, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Thái Thanh Nh, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Ấp TA, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ ngày 27/11/2020, Lê Công Th điều khiển xe môtô Wave biển số 83H5-9511 từ xã Sông Thao đi xã Hưng Thịnh. Khi đi đến đoạn đường liên ấp Hòa Bình - Hưng Long thuộc khu 5, ấp Hòa Bình, xã Đông Hòa, huyện Trảng Bom, Th quan sát thấy chị Trần Thị Kim N đang điều khiển xe môtô biển số 60B7-441.91 lưu thông phía trước cùng chiều, trong túi áo khoác bên phải có 01 điện thoại Iphone 7 plus nên Th nảy sinh ý định cướp giật. Lúc này ,Th điều khiển xe ép sát chị N đồng thời dùng tay trái giật điện thoại sau đó tăng ga bỏ chạy. Khi Th chạy được khoảng 300 mét thì chị N truy hô và đuổi theo, cùng lúc này có tổ công tác của Công an xã Đông Hòa đang đi tuần tra phát hiện truy đuổi bắt quả tang Lê Công Th và thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 plus, 01 mô tô biển số 83H5-9511 (Bút lục số: 16-19).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu định giá tài sản đối với 01 điện thoại di động hiệu Apple iphone 7 plus. Theo Kết luận định giá tài sản ngày 04 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Trảng Bom, 01 điện thoại di động hiệu Apple iphone 7 plus trị giá 5.000.000 đồng (bút lục 30-32).
Ngày 02/12/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Công Th về tội “Cướp giật tài sản” để điều tra. Quá trình điều tra, bị can Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên (bút lục: 01; 04; 40-55).
Xử lý vật chứng: Đối với điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 plus Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Đối với xe mô tô biển số 83H5-9511, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tra cứu nhưng chưa làm rõ chủ sở hữu nên quyết định tách ra khi có căn cứ sẽ xử lý sau (bút lục số: 77; 78-84).
Về dân sự: Trong quá trình điều tra, chị Trần Thị Kim N đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường, cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì về sau.
Tại Cáo trạng số: 45/CT-VKS-TB ngày 08 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị can Lê Công Th về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại các điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị áp dụng các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Công Th; về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tình tiết tăng nặng: không. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với xe mô tô biển số 83H5-9511, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tra cứu nhưng chưa làm rõ chủ sở hữu nên quyết định tách ra khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Vì vậy, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
Lời khai tại phiên tòa của bị cáo Lê Công Th phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 8 giờ ngày 27/11/2020, tại đoạn đường liên ấp Hòa Bình - Hưng Long thuộc khu 5, ấp Hòa Bình, xã Đông Hòa, huyện Trảng Bom, Lê Công Th đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 83H5-9511 ép sát chị Trần Thị Kim N đang điều khiển xe môtô biển số 60B7-441.91 để cướp giật của chị N 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 plus trị giá 5000.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát, nhưng sau đó đã bị bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, bị cáo Lê Công Th đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy: Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tiền án, bị cáo có 03 tiền án về các tội xâm phạm sở hữu nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần xử phạt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 83H5-9511, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tra cứu nhưng chưa làm rõ chủ sở hữu nên quyết định tách ra xử lý sau là có căn cứ. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào các điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Lê Công Th (tên gọi khác: T) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lê Công Th 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2020.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Công Th phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom; - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán. Mẫu 27-HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký, đóng dấu) Phạm Phú Tra |