vanban.org

Bản án 41/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2021. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/HS-ST
Ngày: 12-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Tùng

2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương -Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Vào ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/HSST-QĐ ngày 30 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1997 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam; Đăng ký thường trú: ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đ. Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh;

Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Con ông Nguyễn T (đã chết) và bà Nguyễn Th (đã chết). Vợ, con: Chưa có. Tiền án: 01: Ngày 23/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự số 53/2019/HSST, ngày 01/4/2020 chấp hành xong hình phạt. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 13/12/2018 bị Công an huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định xử phạt hành chính số 819/CAH-KTMT. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2021 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Những người tham gia tố tụng:

- Bị hại: Chị Lê Thị Kim Tr, sinh năm 1987 (Vắng)

Địa chỉ: ấp Việt Kiều, xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

Anh Hoàng Thanh B, sinh năm 1989 (Vắng)

Địa chỉ: Ấp Việt Kiều, xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy tổng hợp, không có nghề nghiệp. Để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân,H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/12/2021,H một mình đi bộ từ nhà mình theo đường Song Hành đến khu vực Chợ Nhỏ thuộc ấp Việt Kiều, xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà chị Lê Thị Kim Tr, sinh năm 1987 và nhà anh Hoàng Thanh B, sinh năm 1989 (em chồng chị của Tr) thuộc ấp Việt Kiều, xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc,H thấy đèn điện trong sân nhà chị Tr và anh B chiếu sáng, tại vị trí hiên nhà chị Tr có nhiều bao nilon đựng hạt điều đã qua chế biến nênH đã nảy sinh ý định trộm cắp hạt điều của chị Tr đem bán lấy tiền. Do xung quanh nhà chị Tr và anh B được xây dựng chung tường rào kiên cố, cổng đóng khóa nênH đi bộ vào trong khu đất trống sát bên hông trái nhà anh B để tìm cách đột nhập vào trong trộm cắp hạt điều của chị Tr. Lúc này,H phát hiện trên tường rào bên trái của nhà chị Tr và anh B có lắp đặt 01 camera an ninh nên đã trèo lên trên tường rào rồi dùng tay điều chỉnh máy camera hướng lên trời để tránh bị phát hiện. Tiếp đó,H trèo qua tường rào đột nhập vào bên trong, rồi đến vị trí những bao điều tại hiên trước nhà chị Tr. Để có thời gian tẩu thoát khi bị phát hiện,H đã lấy 01 sợi dây cột giày của chị Tr để tại hiên trước nhà cột chặt tay cầm bên ngoài cửa chính nhà anh B. Sau đó,H trộm cắp 18kg hạt điều đã qua chế biến đựng trong bao nilon màu trắng của chị Tr và lấy 02 bao nilon khác chia bao hạt điều thành từng phần nhỏ luồn qua khe tường rào đưa hạt điều ra ngoài, rồiH theo đường đã đột nhập vào tẩu thoát. Để tránh bị phát hiện,H đã đổ toàn bộ số hạt điều trộm cắp được vào trong 01 ba lô doH nhặt được tại khu đất trống, rồi xách ba lô đựng hạt điều đi về nhà để cất giấu. KhiH đang đi bộ trên đường Song Hành thì bị Công an xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc phát hiện, lập hồ sơ ban đầu và báo Công an huyện Xuân Lộc tiếp nhân xử lý.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐĐG ngày 21/12/2021 của

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Lộc, kết luận: Giá trị còn lại của 18kg hạt điều nhân đã qua chế biến là 3.240.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ và trách nhiệm dân sự: 18kg hạt điều nhân đã qua chế biến; 02 bao nilon màu trắng. Quá trình điều tra xác định tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị Kim Tr. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trả 18kg hạt điều trên cho chị Lê Thị Kim Tr. Nhận lại tài sản chị Tr không có yêu cầu gì về mặt dân sự.

- 01 ba lô màu xanh, nâu, đen. Quá trình điều tra xác định ba lô trên doH nhặt được tại khu đất trống, không xác định chủ sở hữu.

Bản cáo trạng số 44/CT-VKSXL ngày 16 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố.

+ Tình tiết tăng nặng: Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra, bị cáo không biết chữ nên nhận thức về pháp luật có phần bị hạn chế quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản lấy lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 20/12/2021, tại nhà chị Lê Thị Kim Tr thuộc ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đ, Nguyễn Văn H đã có hành vi trộm cắp 18 kg hạt điều của chị Tr trị giá 3.240.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất vai trò hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

+ Tình tiết tăng nặng: tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, ngoài ra, bị cáo không biết chữ nên nhận thức về pháp luật có phần bị hạn chế. Đây là tỉnh tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu về dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án: 18kg hạt điều nhân đã qua chế biến; 02 bao nilon màu trắng. Quá trình điều tra xác định tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị Kim Tr. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trả 18kg hạt điều trên cho chị Lê Thị Kim Tr là phù hợp.

- 01 ba lô màu xanh, nâu, đen. Quá trình điều tra xác định ba lô trên doH nhặt được tại khu đất trống, không xác định chủ sở hữu, không có còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2021.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu xanh, nâu, đen.

- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Chị Lê Thị Kim Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ