vanban.org

Bản án 41/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 06/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H và Đỗ Văn Th phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 22/6/2021. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Th 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Hà cùng đồng phạm trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H và Đỗ Văn Th phạm tội: Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/HS-ST
Ngày 06/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tích

Ông Ngô Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST-HS ngày 23/8/2021 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn H - sinh năm 1992. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi sinh sống: Thôn Cổ Phục N, xã Kim L, huyện KT, tỉnh HD; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Đỗ Văn R (đã chết) và bà Vũ Thị D(đã chết); Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Tại bản án số 53/2013/HSST ngày 19/7/2013, Đỗ Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Ngày 15/10/2013, Hà thi hành xong phần thi hành án dân sự, ngày 07/8/2016, Hà chấp hành xong hình phạt tù của bản án.

Hiện bị cáo đang bị bắt tạm giam tại nhà Tạm giữ công an huyện Kim Thành từ ngày 22/6/2021 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Đỗ Văn Th - sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi sinh sống: Thôn Cổ Phục N, xã Kim L, huyện KT, tỉnh HD; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Không; Con ông: Đỗ Văn Sinh - sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1963; có vợ: Lê Thị D - sinh năm 1993; Có 2 con: Con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại:

- Anh Nho Văn Q – sinh năm 1981

- Chị Lương Thị Ng – sinh năm 1989

Đều trú tại: Thôn Dưỡng Thái B, xã Phúc Th, huyện KT, tỉnh HD.

Đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 45 phút ngày 08/3/2021, Đỗ Văn Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại Sirius, biển số 34G1- 020.46 của Th đến nhà Đỗ Văn H ở cùng thôn chở H đến Trung tâm y tế huyện Kim Thành cơ sở 2, địa chỉ: thị trấn Phú Th, huyện KT, tỉnh HD uống thuốc Methadone điều trị nghiện các chất ma túy dạng thuốc phiện. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Th uống Methadone xong, H không được uống vì không đủ tiền đóng phí. Th bảo H đi cùng Thiết sang thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương vay tiền bạn của Th để đưa cho H đóng phí uống Methadone, H đồng ý. Khi Th chở H đến bến đò Phủ thuộc xã Phúc Thành, huyện Kim Thành để qua sông sang thị xã Kinh Môn thì đò không hoạt động. Th chở H về nhưng Th không muốn quay lại đường cũ vì có nhiều ổ gà. Thiết hỏi người dân đường ra Quốc lộ 5 thì người đó bảo Th rẽ xuống đê đi vào đường làng. Do không biết đường nên Th chở H đi lạc vào khu vực đường vào nhà vợ chồng anh Nho Văn Q và chị Lương Thị Ng. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi qua hết nhà lán để máy cày của vợ chồng anh Q ở giáp mép đường, Th phát hiện thấy đó là con đường cụt không đi tiếp được nên Th dừng lại, quay đầu xe để đi ra. Lúc này, H xuống xe đi bộ, Th ngồi trên xe ga nhẹ đi chậm về phía trước, qua lán nhà anh Q được khoảng 02 mét thì H đi bộ phía sau nhìn thấy lán nhà anh Q đóng cửa, xung quanh vắng người, một phần sợi dây xích của phay máy cày có trọng lượng 3kg, dài 90cm, mắt xích hình trụ tròn đường kính 01cm bị hỏng, đã han gỉ, anh Q để ở rìa đường giáp với bức tường bên trái cửa lán thò ra khỏi bao tải dứa đậy ở phía trên. H nói với Th: Đợi tôi để tôi nhặt cái xích này về dùng. Khi nghe H nói như vậy thì Th quay lại nhìn thấy sợi dây xích, Th bảo H: Thôi, nhưng Th vẫn dừng lại, tắt máy xe để chờ H. H đi đến cầm sợi dây xích trên lên thì bao tải dứa bật ra, H nhìn thấy phía dưới bao tải dứa anh Q còn để 02 sợi dây xích của phay máy cày, mỗi sợi dây đều có trọng lượng 07kg, dài 108cm, mắt xích hình trụ tròn đường kính 02cm, trong đó 01 sợi dây xích đã qua sử dụng từ tháng 5/2020 còn 01 sợi dây xích chưa qua sử dụng. H dùng tay cầm tiếp 02 sợi dây xích này lên rồi đi về phía Thiết đang đứng đợi. Khi H đi được khoảng 01 mét thì anh Q từ trong nhà đi ra thấy H đang cầm trên tay 03 sợi dây xích phay máy cày của gia đình mình, anh Q liền hô: Chúng mày làm gì đấy. Hà liền vứt 03 sợi dây xích xuống đường rồi đi đến ngồi lên phía sau xe máy của Th đang dừng cách đó khoảng 01 mét thì bị anh Q chạy đuổi theo túm vào áo lôi xuống xe. Sau đó, anh Quỳnh gọi điện báo Công an xã Phúc Thành đến đưa H và Th về trụ sở UBND xã Phúc Thành lập biên bản vụ việc, quản lý 03 sợi dây xích của gia đình anh Q bị trộm cắp và chiếc xe mô tô biển số 34G1- 020.46 của Th. Trong quá trình H lấy các sợi dây xích của gia đình anh Q, Th đứng gần đó nhìn thấy, nếu không bị anh Q phát hiện thì Th sẽ chở H cùng 03 sợi dây xích về nhà H.

Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kim Thành ngày 17/3/2021 kết luận: 01 dây xích của phay máy cày nặng 3kg, dài 90cm, mắt xích hình trụ tròn đường kính 01cm đã cũ hỏng trị giá 15.000 đồng; 01 dây xích của phay máy cày nặng 7kg, dài 108cm, mắt xích hình trụ tròn đường kính 02cm đã qua sử dụng từ tháng 5/2020 trị giá 1.500.000 đồng; 01 dây xích của phay máy cày nặng 7kg, dài 108cm, mắt xích hình trụ tròn đường kính 02cm còn mới chưa qua sử dụng trị giá 3.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo H, Th khai nhận về hành vi như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKS ngày 13/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đỗ Văn H, Đỗ Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H, Đỗ Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điều 17, 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Th. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H từ 10 tháng đến 13 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 22/6/2021. Xử phạt bị cáo Th từ 07 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đỗ Văn H, Đỗ Văn Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo H, Th khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Đỗ Văn H, Đỗ Văn Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/3/2021, tại khu vực rìa đường giáp với bức tường bên trái cửa lán của gia đình anh Nho Văn Q thuộc thôn Dưỡng Thái B, xã Phúc Th, huyện KT, tỉnh HD, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Đỗ Văn H và Đỗ Văn Th đã lấy của gia đình anh Q 03 sợi dây xích kim loại của phay máy cày tổng trị giá 4.515.000 đồng.

Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Đỗ Văn H, Đỗ Văn Th phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Đỗ Văn H, Đỗ Văn Th về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo sợ mất tài sản trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để thoả mãn nhu cầu cá nhân. Đây là vụ án đồng phạm, đánh giá về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo Đỗ Văn H là người giữ vai trò chính, là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Th tuy không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhưng có vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo H nên giữ vai trò đồng phạm. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo H có nhân thân xấu năm 2013 đã bị Toà án nhân dân huyện Kinh Môn xử về tội cướp giật tài sản nhưng không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo Th phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại là vợ chồng anh Nho Văn Q và chị Lương Thị Ng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Th được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nho Văn Q và chị Lương Thị Ng đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 34G1- 020.46 là của bị cáo Th, không phải là vật chứng của vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo Th là phù hợp nên không đặt ra việc xử lý.

Về án phí: Các bị cáo bị kết luận phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đối với cả hai bị cáo. Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Th.

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H và Đỗ Văn Th phạm tội: Trộm cắp tài sản.

2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 22/6/2021.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Th 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H và Đỗ Văn Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ