- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2021/HNGĐ-ST Ngày 27-4-2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Công Trường
2. Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 541/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/QĐST – HNGĐ ngày 06/4/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lã Thị K, sinh năm 1993 (Có mặt)
Địa chỉ: Xóm I, xã O, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
Chỗ ở: Tổ A, Khu phố B, phường C, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm I, xã O, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
Chỗ ở: Tổ A, Khu phố B, phường C, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn Bà Lã Thị K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn T tự nguyện tìm hiểu, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã O, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình vào ngày 03/02/2015, số 13. Sau khi cưới nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm về mọi vấn đề trong cuộc sống, ông T không phụ bà chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng.
Vì mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể tiếp tục chung sống với ông T nên bà đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ để yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn T.
- Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà K và ông T có 01 con chung là Trần Thị Thu M, sinh ngày 29/8/2016. Khi ly hôn bà K có nguyện vọng giao cháu M cho ông T trực tiếp đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi), bà K không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn T vắng mặt không cung cấp ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Bà Lã Thị K.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý và giải quyết vụ việc trên là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của pháp luật.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình, còn bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ và lời khai có trong hồ vụ án cũng như sự trình bày của bà K tại Phiên tòa, xét thấy mâu thuẫn giữa bà K và ông T là có thật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K
-Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi theo yêu cầu của bà K, bà K không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ theo nội dung Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bị đơn có địa chỉ tại phường C, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên xác định vụ việc giải quyết trên thuộc loại quan hệ về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vắng mặt bị đơn: Đối với ông Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Nội dung giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lã Thị K và ông Trần Văn T đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã O, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình vào ngày 03/02/2015, số 13, nên hôn nhân giữa bà K và ông T là hợp pháp.
Theo bà K trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống, ông T không thấu hiểu bà nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng.
Mặc dù đây chỉ là lời khai một phía từ bà K không được ông T xác nhận, nhưng suốt quá trình tố tụng ông T biết bà K khởi kiện ly hôn tại Tòa, Tòa án đã triệu tập ông nhiều lần nhưng ông không đến cũng như không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà K, điều này thể hiện ông không có thiện chí hàn gắn hôn nhân với bà K.
Qua đó khẳng định mẫu thuẫn giữa bà K và ông T là trầm trọng, hôn nhân không thể hàn gắn. Từ đó Hội đồng xét xử nhận thấy mục đích hôn nhân giữa bà K và ông T không đạt được cần chấp nhận yêu cầu của ly hôn của bà K.
Về con chung:
Giữa bà K và ông T có 01 con chung là Trần Thị Thu M, sinh ngày 29/8/2016, bà K có nguyện vọng giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi khi ly hôn. Mặt dù ông T không có ý kiến phản hồi về con chung. Tuy nhiên, theo như thông tin mà bà K cung cấp thì hiện nay cháu M đang ở với ông T.
Từ những phân tích đánh giá như trên, xét thấy giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà K phải chịu 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Bà K và ông T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Lã Thị K.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lã Thị K được ly hôn với ông Trần Văn T.
- Về con chung: Căn cứ theo nguyện vọng của bà K nay giao cháu Trần Thị Thu M, sinh ngày 29/8/2016 cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Buộc Bà Lã Thị K phải giao cháu M cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, bà Lã Thị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lã Thị K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006038 ngày 24 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Như vậy, bà K đã nộp đủ tiền án phí.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THADS TX Phú Mỹ; - Ủy ban nhân dân xã O; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm (riêng đối với người vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai). HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hồng Thái 3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |