vanban.org

Bản án 41/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị T được ly hôn với anh Võ Hồng H.

[2]. Về con chung: Giao cháu Võ Quách Ngọc H (sinh ngày 07/12/2014) cho chị Quách Thị T nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành. Không ai được quyền cản trở việc thăm con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị T với anh H"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị T được ly hôn với anh Võ Hồng H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/HNGĐ-ST
Ngày 15/12/2021
(V/v tranh chấp hôn nhân – gia đình)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG - TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Bá Bảy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Y Míp Niê

Ông Nguyễn Văn Quân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa:

Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 279/2021/TLST-HNGĐ ngaøy 24/11/2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXXST-DS ngày 29/11/2021, giữa đương sự:

Nguyên đơn: Chị Quách Thị T - sinh năm 1993, có mặt

Trú tại: Thôn T, xã C, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Anh Võ Hồng H - sinh năm 1983, vắng mặt (đã mất tích).

Hộ khẩu thường trú cuối cùng: Thôn T, xã C, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/11/2021 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Quách Thị T trình bày:

Chị Quách Thị T và anh Võ Hồng H tự nguyện kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Krông Năng. Sau khi kết hôn chị T và anh H chung sống với nhau đến tháng 02/2019 thì anh Võ Hồng H tự ý bỏ nhà đi khỏi địa phương cho đến nay không có tin tức gì. Chị T đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tuyên bố anh Võ Hồng H mất tích theo quy định của pháp luật. Trong thời kỳ hôn nhân chị T và anh H sinh được 01 con chung: Võ Quách Ngọc H (sinh ngày 07/12/2014), hiện nay chị T đang nuôi dưỡng cháu Hân. Về tài sản chung, chị T và anh H không có tài sản chung gì.

Nay chị Quách Thị T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Năng giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Võ Hồng H theo quy định của pháp luật. Về con chung, chị T xin được nuôi dưỡng cháu Võ Quách Ngọc H (sinh ngày 07/12/2014) đến đủ tuổi trưởng thành, do hiện nay anh H đã mất tích nên chị T không yêu cầu Tòa án đề cập đến vấn đề trợ cấp nuôi con chung. Về tài sản chung, chị T và anh H không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Anh Võ Hồng H hiện nay đã mất tích (theo quyết định tuyên bố mất tích số 23/2021/QĐST-VDS ngày 03/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng các quy định tại Điều 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự; đối với bị đơn hiện nay đã mất tích (theo quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án), nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

+ Về nội dung: Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn và giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. Về con chung đề nghị giao cháu Võ Quách Ngọc H (sinh ngày 07/12/2014) cho nguyên đơn (chị T) nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành. Về trợ cấp nuôi con chung và giải quyết tài sản chung, đương sự không có yêu cầu nên không đề cập xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tong hồ sơ vụ án và được thẩm trâ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1. Quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị T và anh Võ Hồng H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2014, tại UBND xã Cư Klông, huyện Krông Năng. Nay anh Võ Hồng H đã mất tích và chị Quách Thị T có yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Quách Thị T về việc xin ly hôn với anh Võ Hồng H.

2.2. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị T và anh H sinh được 01 con chung: Võ Quách Ngọc H (sinh ngày 07/12/2014). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị T đề nghị Tòa án giao cháu H cho chị T nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay anh H đã mất tích, nên việc giao cháu H cho chị T nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành là phù hợp với pháp luật.

2.3. Về tài sản: Chị Quách Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Chị Quách Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị T được ly hôn với anh Võ Hồng H.

[2]. Về con chung: Giao cháu Võ Quách Ngọc H (sinh ngày 07/12/2014) cho chị Quách Thị T nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành.

Không ai được quyền cản trở việc thăm con chung.

[3]. Về án phí: Chị Quách Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng theo biên lai số 60AA/2021/0003094 ngày 18/11/2021.

[4]. Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ