vanban.org

Bản án 41/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều

35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 4 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Hường ly hôn Quàng Văn Hà"
  • Tòa quyết gì? 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 41/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 06/09/2021

HUYỆN ĐIỆN BIÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- TH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ngọc Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Tám và ông Lò Văn Sung - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham g ia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn – Kiểm sát viên. Ngày 06 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 177/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2021 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H; Sinh năm: 1991; Nơi ĐKNKTT: Bản P, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở hiện nay: Ký túc xã H, thôn 1, xã Q, huyện H1, tỉnh Quảng Ninh; (Vắng mặt) 2. Bị đơn: Anh Quàng Văn H1; Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Bản P, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31/3/2021 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày: Về hôn nhân: Chị H và anh Quàng Văn H1 đăng ký kết hôn từ ngày 17/5/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai anh chị tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, tH xuyên xẩy ra cãi nhau, được gia đình hai bên hòa giải nhưng không được, anh chị đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm đi lại với nhau. Xét thấy tình cảm không còn chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1. Về con chung: anh chị có một con chung là cháu Quàng Ngô Ngọc A sinh ngày 31/12/2014, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu

A, thu nhập của chị là 6.000.000 đ/ 01 tháng; không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản: Chị H không yêu cầu tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H1, đã triệu tập anh H1 đến Tòa án để giải quyết vụ việc nhưng anh H1 vẫn vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa giải quyết vụ việc theo qui định. Tòa án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của hai vợ chồng xác định: Hai vợ chồng chị H và anh H1 chung sống tH xuyên xẩy ra mâu thuẫn. Hai anh chị có một con chung là cháu Quàng Ngô Ngọc A sinh ngày 31/12/2014 đang ở với chị H. Chị H có nghề nghiệp là công nhân, anh H1 có nghề nghiệp là làm ruộng và đi làm thuê. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên khẳng định: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đảm bảo đúng qui định; Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; Bị đơn không có mặt theo sự triệu tập của Tòa án là vi phạm qui định tại điều 70, 72 BLTTDS. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, điều 53 và điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị H được ly hôn với anh H1; áp dụng các điều 69, 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 giao cháu A cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc chị H nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: - Về thủ tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Ngày 01/4/2021 chị Ngô Thị H nộp đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2021 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con tại Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với anh Quàng Văn H1; Địa chỉ: Bản P, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Chị H có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo qui định tại khoản 1 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngày 05/4/2021 chị H đã nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí, cùng ngày Tòa án đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị H theo khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình và Điều 195 BLTTDS. - Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Ngô Thị H và anh Quàng Văn H1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Anh H1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa, chị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử chăn cứ điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự. [2] Về yêu cầu khởi kiện: Về hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Quàng Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện không ai bị mất năng lực hành vi dân sự, không bị ai ép buộc, có đăng ký

kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 17/5/2014, các bên kết hôn khi đã đủ điều kiện kết hôn. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H, anh H1 là hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì lâm vào mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, thường xuyên xẩy ra cãi nhau, được gia đình hai bên hòa giải nhưng không được, anh chị đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm đi lại với nhau. Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ cũng đã xác nhận tình trạng mâu thuẫn của hai anh chị. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định việc hai vợ chồng không còn hạnh phúc, có mâu thuẫn là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa hai vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định hai anh chị đã vi phạm nghĩa vụ của vợ, chồng, dẫn đến không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị H, giải quyết cho ly hôn giữa chị H với anh H1. Về con chung: Chị H và anh H1 có một con chung là Quàng Ngô Ngọc A sinh ngày 31/12/2014. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu là phù hợp phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của cháu, mặt khác cháu đang ở cùng chị ổn định; Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu và nguyện vọng của chị H, cần căn cứ các qui định tại điều 58, điều 69, các khoản 1, 2 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 giao cháu A cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Các đương sự không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét. Về tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập giải quyết. [3] Về Án phí: Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị H chịu 300.000 đ tiền án phí dân sự sơ thẩm của vụ án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, các khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị H, cho ly hôn giữa chị Ngô Thị H và anh Quàng Văn H1. 2. Về con chung: Giao con chung là cháu Quàng Ngô Ngọc A sinh ngày 31/12/2014 cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Kh ông đề cập giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật hôn nhân và Gia đình. 3. Về tài sản và nợ: Không đề cập giải quyết. 4. Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm của vụ án, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên lai thu tiền số 0004751 ngày 01/4/2021, chị H đã nộp đủ án phí. 5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ