vanban.org

Bản án 41/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H.

Buộc ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V cùng liên đới chịu trách nhiệm thanh toán cho ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H 58.000.000đồng (Năm mươi tám triệu đồng) tiền nợ hụi. Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H có đơn yêu cầu thi hành án thì h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trương Văn M, Huỳnh Thị Kim H - Nguyễn Ngọc T, Đỗ Thị Hồng V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/DS-ST.
Ngày: 11-3-2021.
V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xươnne;

2. Ông Nguyễn Văn Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Không.

Ngày 11 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 420/2020/TLST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST - DS ngày 04 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2021/QĐST - DS ngày 22 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trương Văn M, sinh năm 1967 và bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1968; Cùng địa chỉ: Số 257, Ấp M, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (ông M, bà H có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1961 và Đỗ Thị Hồng V, sinh năm 1958; Cùng địa chỉ: số nhà 33, Ấp M, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (ông T, bà V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/12/2020, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là ông Trƣơng Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H trình bày:

Nguyên vợ ông M và bà H có làm đầu thảo hụi mùa và hụi tháng, còn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V là hụi viên. Ông T và bà V có tham gia chơi 03 dây hụi do ông bà làm đầu thảo, cụ thể như sau:

Dây 1: Hụi mùa (khui theo vụ lúa, 03 lần/năm), hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 10/3/2018 (âl) gồm 16 chưng, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V tham gia 01 chưng hụi, hốt lần thứ 3, đóng hụi chết đến lần thứ 08 thì ngưng đóng, đến ngày 24/12/2020 hụi đã khui lần thứ 12, do đó ông bà phải đóng thay vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V với 04 lần x 5.000.000đồng = 20.000.000 đồng. Còn 04 lần chưa tới chưa khởi kiện.

Dây 2: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 08/10/2019 (âl) gồm 24 chưng, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V tham gia 01 chưng hụi, hốt lần thứ 02, không đóng hụi chết, đến ngày 24/12/2020 hụi đã khui 15 lần, do đó ông bà phải đóng thay vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V với 13 lần x 2.000.000đồng = 26.000.000 đồng. Còn 09 lần chưa tới chưa khởi kiện.

Dây 3: Hụi mùa 3.000.000 đồng, mở ngày 15/6/2017 (âl) gồm 16 người tham gia, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V tham gia 01 chưng hụi, hốt lần thứ 02, đóng hụi chết đến lần thứ 08 thì ngưng đóng, đến ngày 24/12/2020 hụi đã khui lần thứ 12, do đó ông bà phải đóng thay vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V với 04 lần x 3.000.000đồng = 12.000.000 đồng. Còn 04 lần chưa tới chưa khởi kiện.

Tổng cộng 03 dây hụi nêu trên do vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V còn nợ ông bà tổng cộng là 58.000.000 đồng (Năm mươi tám triệu đồng).

Vì vậy, ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V có trách nhiệm trả lại ông bà với tổng số tiền là 58.000.000 đồng (Năm mươi tám triệu đồng).

Bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa, các bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, các bị đơn không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho các bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn theo quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu đòi các bị đơn phải trả số tiền hụi còn nợ của ba dây hụi mở vào ngày 10/3/2018 (âl), 08/10/2019 (âl) và ngày 15/6/2017 (âl) với tổng số tiền là 58.000.000đồng.

Tại khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...”; “.... Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó ...” và “ Đương sự có nghĩa vụ đưa ra những chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.

Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho các bị đơn như: thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Trong đó, thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, nhưng phía các bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không phản đối yêu cầu khởi kiện và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, đồng thời cũng không có yêu cầu phản tố. Như vậy các bị đơn đã tự tước bỏ quyền chứng minh và quyền cung cấp chứng cứ của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét các ý kiến và yêu cầu của các bị đơn mà đã có đủ căn cứ để xác định các lời trình bày của nguyên đơn khai là hoàn toàn hợp lệ, phù hợp với quy định tại Điều 93, Điều 94 và Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét thấy, giữa nguyên đơn và các bị đơn đã có giao dịch về tài sản dưới hình thức góp hụi với mục đích tương trợ, có hưởng huê hồng và tiền lãi được thực hiện theo quy định của pháp luật là có thật. Tuy nhiên, hiện nay dây hụi mà các bị đơn tham gia do nguyên đơn làm đầu thảo, các bị đơn đã hốt hụi nhưng không đóng hụi chết cho nguyên đơn, nguyên đơn phải đóng thay cho các bị đơn gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì theo Biên nhận ngày 12/12/2018 các bị đơn đã hốt hụi và có cam kết đóng hụi chết đúng theo thỏa thuận nhưng các bị đơn không thực hiện đúng cam kết thì đầu thảo (nguyên đơn) có quyền khởi kiện. Cho nên, yêu cầu của nguyên đơn đòi các bị đơn phải thanh toán số tiền hụi còn nợ tính đến ngày 24/12/2020 là 58.000.000đồng là có căn cứ cần được chấp nhận.

Tại phiên Tòa, nguyên đơn không yêu cầu tính thêm tiền lãi suất nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí DSST:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên các bị đơn phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các bị đơn không có đơn đề nghị miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95, khoản 5 Điều 177, Điều 179, khoản 2, Điều 227, khoản 3, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, Điều 468 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ: Về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ khoản 1, Điều 27 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ: Về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H.

Buộc ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V cùng liên đới chịu trách nhiệm thanh toán cho ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H 58.000.000đồng (Năm mươi tám triệu đồng) tiền nợ hụi.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V cùng liên đới trả số tiền lãi suất cho ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông Nguyễn Ngọc T và bà Đỗ Thị Hồng V phải liên đới chịu 2.900.000đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H không chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Trương Văn M và bà Huỳnh Thị Kim H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.450.000đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008728 ngày 24/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách. Nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách khi án có hiệu lực.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ