- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số 41/2021/DS-PT Ngày 02 - 8 - 2021 “V/v Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Quốc Sơn.
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Mỹ Hải
Ông Nguyễn Hữu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 và ngày 02 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 50/2021/TLPT-DS ngày 10 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 12/2021/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 85/2021/QĐ-PT ngày 15 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hg, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm 5, xã T1, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của chị Hoàng Thị H: Anh Đặng Xuân K, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm 5, xã T1, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Hoàng Thị H: Bà Đặng Thị Hương Lan, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Hương Lan, Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1955; anh Nguyễn Sỹ Đ, sinh năm 2004 và anh Nguyễn Sỹ H, sinh năm 2006; địa chỉ: Xóm 5, xã T1, huyện T, tỉnh Nghệ An; anh Đ và anh H vắng mặt; bà S có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Sỹ Đ và anh Nguyễn Sỹ H: Ông Nguyễn Sỹ S1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm 5, xã T1, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.
Người kháng cáo: Anh Đặng Xuân K và bà Nguyễn Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hoàng Văn W (người được anh Đặng Xuân K ủy quyền tham gia tố tụng) trình bày: Vào hồi 16 giờ ngày 15 tháng 9 năm 2017, do trời mưa to nên nước chảy từ ngoài vào vườn nhà mình nên chị Hoàng Thị Hg là con gái của ông W ra ngăn không cho nước chảy vào vườn thì bà Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Sỹ Đ, anh Nguyễn Sỹ H và anh Nguyễn Sỹ X ngăn cản. Trong quá trình đó, bà S, anh H, anh N và anh Đ đánh đập chị Hg dẫn đến phải đi điều trị tại Trạm Y tế xã Thanh Hà, trong đêm sau chuyển đến Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Chương cấp cứu, sau đó, chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nghệ An điều trị đến ngày 29 tháng 9 năm 2017 thì ra viện. Vì vậy, người đại diện hợp pháp của chị Hg yêu cầu bà S, anh Đ, anh N và anh H bồi thường các khoản chi phí gồm: Tiền thuốc điều trị trong quá trình nằm viện 4.152.000 đồng; tiền thuê xe đi lại 750.000 đồng; tiền xe chở bệnh nhân đi cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa Nghệ An 650.000 đồng; tiền chở bệnh nhân về Thanh Chương 600.000 đồng; tiền xe chở bệnh nhân đi cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa Nghệ An 600.000 đồng; tiền chở bệnh nhân về Thanh Chương 600.000 đồng; tiền thuê xe chở đi giám định 1.500.000 đồng; tiền thuê xe chở người nhà đi 1.000.000 đồng; tiền chi phí cho người phục vụ tại Bệnh viện Thanh Chương 560.000 đồng; tiền sữa, hoa quả cho bệnh nhân tại Bệnh viện Thanh Chương 300.000 đồng; tiền bô, chậu phục vụ bệnh nhân 450.000 đồng; tiền chi phí ăn uống cho bệnh nhân trong những ngày điều trị 3.500.000 đồng; tiền chi phí ăn uống cho người nhà bệnh nhân trong những ngày điều trị 4.200.000 đồng; tiền thuê phòng nghỉ 14 ngày 3.500.000 đồng; tiền công chăm sóc 14 ngày x 2 người là 7.000.000 đồng; tiền thuê người chở con đi học 14 ngày 3.500.000 đồng; tiền thuê người chăm sóc bệnh nhân và các cháu trong thời gian điều trị và sau khi điều trị 1.500.000 đồng; tiền chi phí sữa, hoa quả, ăn uống bồi dưỡng cho bệnh nhân từ ngày 29 tháng 9 năm 2017 đến ngày 31 tháng 11 năm 2017 (63 ngày x 250.000 đồng/ngày) là 15.000.000 đồng; tiền công của người bị hại từ ngày 15 tháng 9 năm 2017 đến ngày 31 tháng 11 năm 2017 (63 ngày x 250.000 đồng/ngày) là 15.000.000 đồng. Tổng cộng 78.987.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng, yêu cầu bà S, anh Đ, anh N và anh H có trách nhiệm bồi thường cho chị H số tiền nêu trên.
Bị đơn bà Nguyễn Thị S và cũng là người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Sỹ Đ, anh Nguyễn Sỹ H trình bày: Do nhà của bà S ở cạnh chị Hoàng Thị Hg, ngày 15 tháng 9 năm 2017, do trời mưa to do ảnh hưởng của bão số 10, vườn bà vừa mới múc đất đắp nên bà S và các con có ra đắp đất không cho nước chảy vào vườn. Khi bà và các con đang làm thì chị Hg là người ở kề nhà chị có đến tháo nước chảy xuống vườn nên giữa hai bên có giằng co, chị Hg cầm tóc của bà để nhận xuống mương nước nên con trai bà là anh Nguyễn Sỹ Đ và anh Nguyễn Sỹ H có đấm chị Hg với mục đích cứu bà. Vết thường trên thân thể của chị Hường là do các con của bà gây ra. Khi sự việc xảy ra, anh Nguyễn Sỹ X không có mặt và không tham gia đánh chị Hg. Nay, chị Hg yêu cầu và các con của bà bồi thường số tiền trên thì bà S không đồng ý.
Anh Nguyễn Sỹ H thừa nhận: Chiều ngày 15 tháng 9 năm 2017, giữa bà Nguyễn Thị S (mẹ của anh H) có xảy ra xô xát với chị Hoàng Thị H. Lúc đó, anh H đang ở đó nên có đánh vào thái dương của chị Hg với mục đích để chị Hg buông tóc của bà S ra. Nay, chị Hg yêu cầu bồi thường, anh H không đồng ý.
Bản án Dân sự sơ thẩm số 12/2021/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương đã quyết định: Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 588, Điều 590, Điều 593, Điều 594 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người đại diện theo pháp luật của chị Hoàng Thị H, buộc bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sỹ S1 có trách nhiệm bồi thường thay cho cháu Nguyễn Sỹ H, anh Nguyễn Sỹ Đ các khoản thiệt hại về sức khỏe cho chị Hoàng Thị H số tiền 21.842.000 đồng. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về lãi suất do thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14 tháng 4 năm 2021, bà Nguyễn Thị S kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm buộc bà S phải bồi thường cho chị Hoàng Thị H vì nguyên nhân xảy ra vụ việc không phải là do bà S mà do chị Hg là người đè bà S xuống mương nước làm cho bà S sặc nước, không chống cự được. Thấy vậy, hai con trai của bà S là anh H và anh Đ mới dùng tay chân đánh, đạp vào người chị Hg để cứu bà S, không gây thương tích gì lớn. Anh H và anh Đ đang còn trẻ con, chưa nhận thức được hậu quả của hành vi do mình gây ra, chỉ vì cứu mẹ nên đánh lại, việc đó cũng có phần sai phạm của chị Hg. Các khoản chi phí do gia đình chị Hg cung cấp cho Tòa án phần lớn là do tự khai báo, không có cơ sở thực tế. Bản thân hai con của bà S chưa có công ăn việc làm, không có thu nhập mà phụ thuộc vào bố mẹ. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hg và người đại diện hợp pháp của chị Hg là anh Đặng Xuân K.
Ngày 15 tháng 4 năm 2021, anh Đặng Xuân K kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại, nâng tiền bồi thường lên cho chị Hoàng Thị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị S, anh Đặng Xuân K giữ nguyên nội dung kháng cáo; Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Hg đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh Thanh, tăng mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho chị Hg.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 75, Điều 76 và Điều 294 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được bảo đảm.
- Về thủ tục kháng cáo: Bà Nguyễn Thị S và anh Đặng Xuân K kháng cáo trong thời hạn luật định nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết là đúng pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Do vụ án chưa được xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ và xác định người khởi kiện không đúng quy định của pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 4 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị Hg, anh Nguyễn Sỹ H và anh Nguyễn Sỹ X vắng mặt nhưng đã có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung.
[2] Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[3] Xét nội dung vụ án: Anh Đặng Xuân K (chồng của chị Hoàng Thị Hg) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Sỹ S1 phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe do anh Nguyễn Sỹ Đ, anh Nguyễn Sỹ H gây ra cho chị Hg bao gồm toàn bộ chi phí bỏ ra trong quá trình điều trị vết thương và bồi thường thiệt hại do tổn thất tinh thần với tổng số tiền 78.987.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm trên cơ sở căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật, đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Thành, buộc bà S và ông Sinh phải bồi thường cho chị Hg số tiền 21.842.000 đồng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà S kháng cáo không chấp nhận bồi thường cho chị Hg, anh Thanh kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng mức bồi thường cho chị Hg.
[3] Xét kháng cáo của anh Đặng Xuân K và bà Nguyễn Thị S:
[3.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Sỹ S1 thừa nhận ngày 15 tháng 9 năm 2017, do có mâu thuẫn trong việc tháo đắp nước, giữa bà Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Sỹ Đ, anh Nguyễn Sỹ H và chị Hoàng Thị H xảy ra xô xát; anh Đ và anh H đã dùng tay, chân đánh, đạp vào người của chị Hg gây thương tích 01% cho chị Hg. Hành vi của anh Đ và anh H đã xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của chị Hg, thực hiện với lỗi cố ý, giữa hành vi và thiệt hại có mối quan hệ với nhau nên phải có trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại xảy ra. Tại thời điểm gây ra thương tích cho chị Hg, anh Đ 13 tuổi, anh H 11 tuổi là người chưa thành niên, căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Dân sự thì ông Nguyễn Sỹ S1 và bà Nguyễn Thị S (là cha mẹ của anh Đ, anh H) là người đại diện theo pháp luật của anh Đ và anh H. Ông Sinh và bà S phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe do anh Đ và anh H đã gây ra đối với chị Hg theo quy định tại khoản 2 Điều 586 của Bộ luật Dân sự. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị S.
[3.2] Về mức bồi thường thiệt hại: Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sỹ S1 phải bồi thường cho chị Hoàng Thị Hg các chi phí bao gồm: Tiền thuốc theo hóa đơn 200.000 đồng; tiền sao bệnh án 70.000 đồng; tiền người nhà bệnh nhân lưu trú 252.000 đồng; tiền chụp CT 400.000 đồng; tiền viện phí ngày 21 tháng 9 năm 2017 là 940.000 đồng; tiền viện phí ngày 29 tháng 9 năm 2017 là 1.750.000 đồng; tiền mua trang thiết bị phục vụ bệnh nhân 300.000 đồng; tiền thuê xe chở bệnh nhân đi cấp cứu ngày 16 tháng 9 năm 2017 là 650.000 đồng; tiền thuê xe chở bệnh nhân từ bệnh viện về nhà ngày 21 tháng 9 năm 2017 là 600.000 đồng; tiền thuê xe chở bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu ngày 23 tháng 9 năm 2017 là 600.000 đồng; tiền thuê xe chở bệnh nhân từ bệnh viện về nhà ngày 29 tháng 9 năm 2017 là 600.000 đồng; tiền công người chăm sóc bệnh nhân trong thời gian điều trị 14 ngày x 250.000 đồng/ngày = 3.500.000 đồng; tiền mất thu nhập của bệnh nhân trong quá trình điều trị và sau điều trị 30 ngày x 250.000 đồng/ngày = 7.500.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 02 tháng lương cơ sở = 2.980.000 đồng; tổng cộng 21.842.000 đồng là phù hợp với thiệt hại thực tế và các quy định của pháp luật. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường của anh Đặng Xuân K. Tuy nhiên, xét nguyên nhân dẫn đến hành vi gây thương tích của anh Nguyễn Sỹ Đ và anh Nguyễn Sỹ H bắt nguồn từ việc chị Hoàng Thị H đã có hành vi đè đầu của bà Nguyễn Thị S trước nên chị Hg cũng có lỗi. Do đó, cần buộc chị Hg phải tự chịu 1/3 thiệt hại, tương ứng 7.280.000 đồng; bà S, ông Sinh phải chịu 2/3 thiệt hại, tương ứng 14.562.000 đồng và có trách nhiệm trả cho chị Hg.
[4] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết, xét thấy, căn cứ tài liệu có tại hồ sơ và trình bày của anh Đặng Xuân K tại phiên tòa thì chị Hoàng Thị Hg đang điều trị bệnh động kinh và có sổ chữa trị tâm thần ngoại trú. Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm chưa hướng dẫn để đương sự thực hiện các thủ tục yêu cầu tuyên bố chị Hg mất hoặc hạn chế năng lực dân sự nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã giải thích nhưng anh Thanh không yêu cầu tuyên bố chị Hg mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Do đó, không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[5] Về án phí: Do có sự thay đổi về số tiền bồi thường nên cần tính lại án phí Dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Sỹ S1, bà Nguyễn Thị S phải chịu. Bà S kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm, trả lại cho bà S số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp. Anh Đặng Xuân K kháng cáo không được chấp nhận nhưng thuộc trường hợp được miễn án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Xuân K; chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị S, sửa bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 588, Điều 590, Điều 593, Điều 594 của Bộ luật Dân sự; xử: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Xuân K (người đại diện theo pháp luật của chị Hoàng Thị H), buộc bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sỹ S1 phải có trách nhiệm bồi thường thay cho anh Nguyễn Sỹ H, anh Nguyễn Sỹ Đ các khoản thiệt hại sức khỏe cho chị Hoàng Thị Hg số tiền 14.562.000 đồng (Mười bốn triệu, năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
+ Buộc bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Văn Sinh phải chịu 728.000 đồng (Bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
+ Bà Nguyễn Thị S không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm; trả lại cho bà Nguyễn Thị S 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0004655 ngày 14 tháng 4 năm 2021.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND huyện Thanh Chương; - Chi cục THADS huyện Thanh Chương; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |