- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2020/ST - HNGĐ Ngày 27/5/2020 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Nhàn; Bà Vi Thị Đông.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngân Mai Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2020/TLST - HNGĐ ngày 25/02/2020 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXX – ST ngày 20 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lô Thị H, sinh năm 1991 – Có mặt
2. Bị đơn: Anh Ngân Văn H, sinh năm 1982 - Vắng mặt. Cả nguyên đơn và bị đơn đều có địa chỉ: Bản TH, xã MS, huyện CC, tỉnh NA.
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lô Thị H có ông Phạm Thế Kỷ - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay chị Lô Thị H trình bày: Chị với anh Ngân Văn H kết hôn với nhau vào ngày 23/6/2010 tại Ủy ban nhân dân xã MS, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được khoảng ba năm thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh H không chịu khó làm ăn, vợ chồng không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi vã. Mặc dù đã được chị cũng như hai bên nội, ngoại khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Trong suốt thời gian chung sống của vợ chồng anh H không biết chăm lo đến hạnh phúc gia đình, không yêu thương, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống với chị. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình cũng như chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay chị và anh H đang sống ly thân, tình cảm vợ chồng thực sự không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Ngân Văn H.
Về con chung: Chị và anh H có một người con chung tên là Ngân Gia H, sinh ngày 22/02/2011. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Lô Thị H không cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Hiện nay chị và anh Ngân Văn H không nợ một tổ chức hoặc cá nhân nào.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Ngân Văn H vắng mặt. Mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, nhiều lần nhưng anh H không có ý kiến gì.
Ý kiến của cháu Ngân Gia H được thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 05/3/2020. Nguyện vọng của cháu sau khi bố mẹ ly hôn là muốn sống với mẹ là Lô Thị H.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:
- Về tình cảm: Đề nghị Tòa án xử cho chị Lô Thị H và anh Ngân Văn H được ly hôn;
- Về con Chung: Giao cháu Ngân Gia H, sinh ngày 22/02/2011cho chị Lô Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Ngân Văn H;
- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ: Hiện nay chị H và anh H không nợ tổ chức và cá nhân nào;
- Về án Phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị miễn án phí cho chị H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung cho chị Lô Thị H nuôi dưỡng, miễn toàn bộ án phí ly hôn cho chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn hiện cư trú tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 07/5/2020 bị đơn anh Ngân Văn H đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ để anh H biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh H vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh H là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Lô Thị H và anh Ngân Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND xã MS, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống do chị H và anh H không biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu. Tại phiên tòa anh H vắng mặt. Tuy nhiên qua xác minh tại địa phương cho thấy vợ chồng chị H và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã ly thân nhiều năm. Xét tình cảm vợ chồng thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lô Thị H như lời người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là có căn cứ.
Về con chung: Chị Lô Thị H và anh Ngân Văn H có một con chung là Ngân Gia H, sinh ngày 22/02/2011. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con cho đến khi cháu H đủ tuổi, trưởng thành. Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/3/2020 cháu Ngân Gia H có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu muốn được ở với mẹ. Xét nguyện vọng của cháu H là hợp lý vì bản thân anh H thường xuyên đi làm ăn xa. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho cháu H Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu H cho chị Lô Thị H trực tiếp nuôi dưỡng như lời người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là hợp lý .
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lô Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Chị Lô Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Nếu sau này anh Ngân Văn H có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Chị Lô Thị H là người dân tộc, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ án phí cho chị H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lô Thị H ly hôn anh Ngân Văn H.
Về con chung: Giao cháu Ngân Gia H, sinh ngày 22/02/2011cho chị Lô Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Ngân Văn H. Anh H có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí lu hôn cho chị Lô Thị H. Hoàn trả cho chị Lô Thị H 300.000 chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0001524 ngày 25/02/2020.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã MS; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Trần Văn Bảo |