vanban.org

Bản án 41/2020/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Quốc D cho Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc Dũng - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2020/HS-ST
Ngày: 27/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Lưu

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Lượng.

2/ Ông Huỳnh Tiến D.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:

1/Trần Quốc D; sinh năm: 1984; tại: tỉnh Đ N ; Hộ khẩu thường trú: 57/55/5C đường Đ, Phường 15, quận B, Thành phố H; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quang H và bà Phan Thị Hồng N; vợ: Nguyễn Thị Bích H1, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Hiền Thanh T, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: 81 đường số S, khu phố 2, phường B, quận TĐ, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24/6/2011, anh Nguyễn Mạnh Tùng điều khiển xe ôtô tải biển số: 57H-0091 dừng trước quán cà phê địa chỉ số 51, đường Quốc lộ 13, khu phố 3, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này Trần Quốc D (Sinh năm: 1984 là bạn của Tùng) điều khiển xe ôtô tải biển số: 9748 (không nhớ số đầu) dựng xe ngay ngã tư Bình Triệu, khu phố 3, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh rồi anh Tùng và D đứng phía sau xe của Tùng để tránh thanh tra giao thông. Lúc này anh Nguyễn Hiền Thanh T (Sinh năm: 1982, chủ quán cà phê) đi ra yêu cầu anh Tùng và D đi chỗ khác đậu xe để quán Công an phê buôn bán thì xảy ra cãi nhau. Anh T chạy vào quán cầm 01 cây gỗ đi ra đòi đập xe và đánh D thì D chạy về xe ôtô tải của mình lấy 01 ống sắt tròn dài 70cm, 01 con dao Thái Lan cán màu vàng dấu ở lưng quần. Lúc này anh T chạy đến đánh nhau với D làm D rớt ống sắt, anh T nhặt cây sắt và tiếp tục xông vào đánh D thì D lấy con dao Thái Lan đâm trúng mặt bên phải và ngực trái của anh T gây thương tích.

Bản kết luận giám định số 281 ngày 09/8/2011 của Trung tâm Pháp Y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: anh Nguyễn Hiền Thanh T bị thương tật vĩnh viễn thấp nhất là 11%.

Bản kết luận giám định bổ sung số 281 ngày 30/8/2019 của Trung tâm Pháp Y

- Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với anh Nguyễn Hiền Thanh T: Tại mặt có tỉ lệ 15;Tại ngực trái hõm nách có tỉ lệ 4%; các thương tật do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắt gây ra. Cộng lùi 02 tỉ lệ trên sẽ ra tỉ lệ 18,4%, làm tròn số 18%.

Ngày 06/12/2011, Cơ quan Cảnh sát Điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án “Cố ý gây thương tích” qui định tại điều 104 Bộ luật hình sự 1999 để điều tra.

Vật chứng: 01 cây gỗ, 01 con dao Thái Lan, 01 ống sắt tròn dài 70cm (không thu hồi được)

Về trách nhiệm Dân sự: Trần Quốc D đã bồi thường số tiền 47.000.000 đồng cho anh Nguyễn Hiền Thanh T, anh T có đơn bãi nại và rút đơn tố cáo, không có yêu cầu gì khác.

Hành vi phạm tội của bị can Trần Quốc D xảy ra trước ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018; căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Để áp dụng những quy định pháp luật có lợi cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức áp dụng Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để truy tố bị can theo tinh thần Nghị quyết số 41 của Quốc hội.

[2] Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-TĐ ngày 20/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố Trần Quốc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị xử phạt bị cáo D từ 02 đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Riêng về xử lý vật chứng do không thu hồi được và về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Quốc D không tranh luận, tỏ thái độ ăn năn hối cải, nhìn nhận trách nhiệm của bản thân, hối hận việc đã gây ra và nói lời sau cùng đã xin lỗi bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị hại trình bày tại phiên tòa đã thừa nhận một phần lỗi thuộc về bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt cũng như xin cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quốc D phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24/6/2011, tại trước quán cà phê địa chỉ số 51, đường Quốc lộ 13, khu phố 3, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Quốc D đã thực hiện hành vi sử dụng 01 con dao gây thương tích 18% cho anh Nguyễn Hiền Thanh T.

Hành vi của bị cáoTrần Quốc D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 ( điểm a khoản 1) của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của con người, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự công cộng. Chỉ vì mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày mà bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm là con dao Thái Lan gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật 18%, đây là tình tiết định tội và định khung quy định tại điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét bản thân bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả. Ngoài ra cũng xem xét bị hại có đơn rút đơn tố cáo, xin giảm hình phạt cũng như bãi nại cho bị cáo, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng áo treo. Ngoài ra cũng xem xét vụ án xảy ra cũng xuất phát từ hành vi bị hại đã dùng thanh gỗ đánh bị cáo trước nên bị cáo mới gây ra thương tích cho bị hại nên đã thể hiện có một phần lỗi của bị hại dẫn đến sự việc xảy ra như trên. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và từ khi được tại ngoại cho đến nay không vi phạm pháp luật gì, vụ án có một phần lỗi của bị hại nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 để tuyên mức án giáo dục, thử thách tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã không thu hồi được 01 cây gỗ, 01 con dao Thái Lan, 01 ống sắt tròn dài 70cm là vật chứng của vụ án nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường số tiền 47.000.000 đồng cho bị hại, đã có đơn bãi nại và rút đơn tố cáo, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết..

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Quốc D cho Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.Buộc bị cáo Trần Quốc D phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án.

Cỡ chữ