vanban.org

Bản án 41/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI HOÀNG T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 41/2020/HS-ST

Ngày: 30/06/2020

HUYỆN TÂN BIÊN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tám; 2. Ông Trần Văn Tảo. - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tới – Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2020/TLHS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo: Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H), sinh ngày 08/5/1998 tại tỉnh L; Nơi cư trú: Ấp D, xã M, huyện B, tỉnh N; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh V (chết) và bà Huỳnh Thị Ngọc Tr; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 11a/QĐ-XPHC ngày 12/02/2020 của Công an xã M, huyện B, tỉnh N xử phạt Bùi Hoàng T 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, nộp phạt ngày 12/02/2020, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ ngày 16/4/2020, chuyển tạm giam từ ngày 19/4/2020 cho đến nay; có mặt. - Bị hại: Anh Lê Văn L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện B, tỉnh N, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 23/02/2020, Bùi Hoàng T đi bộ đến nhà anh Trần Công N ở ấp Gò Đá, xã M, huyện B, tỉnh N để chơi thì gặp anh Lê Văn L, sinh năm 1986, cư trú tại ấp S, xã T, huyện B, tỉnh N điều khiển xe mô tô hiệu Yamha

Sirius, màu đỏ đen, biển số 70T1-8127 đến nhà anh N để uống rượu. Lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô trên để đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá N, nên T nói dối với anh L cho T mượn xe đi công việc cá N, anh L tin tưởng nên đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nêu trên đến cửa khẩu Quốc tế Xa Mát rồi sang Casino (Campuchia) cầm cố xe được số tiền 5.000.000 đồng, sử dụng hết vào mục đích cá N và rời khỏi địa phương. Do không thấy T về nhà nên bà Huỳnh Thị Ngọc Tr là mẹ ruột của T điện thoại cho T và biết được sự việc T lấy xe của anh L đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá N. T đã nói địa điểm cầm cố xe cho bà Tr biết để bà Tr nói lại cho anh L. Anh L đưa cho bà Tr số tiền 6.000.000 đồng để chuộc lại xe mô tô cho anh L. Ngày 24/02/2020, anh Lê Văn L làm đơn tố cáo hành vi của Bùi Hoàng T đến Công an xã M, huyện B, tỉnh N. Ngày 16/4/2020, Công an phường G, thị xã B, tỉnh N kiểm tra hành chính tại khu phố L, phường G phát hiện T nên bàn giao cho Công an huyện Tân Biên xử lý. Tại Cơ quan điều tra, Bùi Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. * Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐG ngày 17/4/2020 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Tân Biên kết luận: Xe mô tô Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 70T1-8127, số khung RLCS5C640-AY206715, số máy 5C64- 206717 có giá trị 10.500.000 đồng. * Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: * Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) không có tài sản riêng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên không tiến hành kê biên. * Trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn L yêu cầu Bùi Hoàng T bồi thường số tiền dùng để chuộc xe là 6.000.000 đồng, đến nay Bùi Hoàng T chưa bồi thường. Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-KSĐT ngày 06 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. * Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên đã ra Quyết định sử lý vật chứng trả lại cho anh Lê Văn L 01 (một) xe mô tô biển số 70T1 – 8127 và bị cáo Bùi Hoàng T 01 điện thoại di động Iphone 6, bị bể màn hình, nên không đặt ra giải quyết. * Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Ghi nhận bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) đã tác động gia đình bồi thường cho anh Lê Văn L số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo T còn phải tiếp tục bồi thường cho anh L số tiền còn lại là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) và bị hại Lê Văn L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 13 giờ ngày 23/02/2020, tại ấp Gò Đá, xã M, huyện B, tỉnh N, Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô hiệu Yamha Sirius, màu đỏ đen, biển số 70T1-8127 trị giá 10.500.000 đồng của anh Lê Văn L để cầm cố lấy tiền tiêu xài cá N, nên T nói dối với anh L cho T mượn xe đi công việc cá N, anh L tin tưởng nên đồng ý. Sau khi lấy được xe, T điều khiển xe đến cửa khẩu Quốc tế Xa Mát rồi sang Casino (Campuchia) để cầm cố xe được số tiền 5.000.000 đồng sử dụng hết vào mục đích cá N và rời khỏi địa phương. Hành vi của bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-KSĐT ngày 06 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. [3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Hoàng T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân một cách trái pháp luật, bị cáo dùng hành vi gian dối để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân. Khi thực hiện hành vi bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của bị cáo gây ra. [4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa, bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhân thân: Bị cáo Bùi Hoàng T có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nên nhân thân của bị cáo bị xem là xấu. [5] Về hình phạt áp dụng: Xét thấy bị cáo Bùi Hoàng T có nhân thân xấu, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đồng thời mới có tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung. [6] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa cho thấy bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) không có tài sản bị kê biên, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T. [7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên đã ra Quyết định sử lý vật chứng trả lại cho anh Lê Văn L 01 (một) xe mô tô biển số 70T1 – 8127 và bị cáo Bùi Hoàng T 01 điện thoại di động Iphone 6, bị bể màn hình, nên không đặt ra giải quyết. [8] Về bồi thường thiệt hại: Anh Lê Văn L yêu cầu bị cáo Bùi Hoàng T bồi thường số tiền 6.000.000 đồng anh đã bỏ ra để chuộc lại xe mô tô biển số 70T1 – 8127. Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường cho anh L số tiền 6.000.000 đồng và đã tác động gia đình bồi thường cho anh L số tiền 2.000.000 đồng để khắc phục 01 phần hậu quả, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị cáo T còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 4.000.000 đồng còn lại cho anh L. [9] Về án phí: Bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định theo các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian chấp hành án phạt tù tình từ ngày 16/4/2020. 2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ các Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại anh Lê Văn L số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (anh Lê Văn L) cho đến khi thi hành án xong, bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Hoàng T (tên gọi khác: H) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại (anh Lê Văn L) vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ