- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Ái T phạm tội “Hủy hoại tài sản” - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ái T; sửa bản án sơ thẩm số: 14/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2020/HS-PT Ngày 19 - 05 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Ông Dương Hùng Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Hồng Kông – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 05 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2020/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Huỳnh Ái T; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Huỳnh Ái T, sinh năm1975, tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp KH, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm 5, phường 1, thành phố CM, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Trung T1 (chết) và bà Nguyễn Thị D (chết); chồng Ngô Hoàng P và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú ngày: 29/10/2019; bị cáo tại ngoại có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thanh Thuận – Văn phòng luật sư Lê Thanh Thuận, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
Bị hại:
1. Nguyễn Phú Y, sinh năm 1973 (có mặt);
2. Huỳnh Thị Ái M, sinh năm 1978 (có mặt);
Cùng cư trú: Ấp KH, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Tòa án không triệu tập):
1. Huỳnh Thị Bé H, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp KH, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.
2. Huỳnh Thị Ái T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp KH, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Ái T có mâu thuẫn tranh chấp đất với vợ chồng em ruột là Huỳnh Thị Ái M, Nguyễn Phú Y, đã khởi kiện chưa được giải quyết. Ngày 10/9/2019, biết tin anh Y, chị M thuê xáng cuốc cải tạo ao nuôi cá trên phần đất đang quản lý. Khoảng 16 giờ ngày 10/9/2019, Huỳnh Ái T mang theo 01 cây dao, đến phần đất nơi ở của vợ chồng anh Y, chị M ngăn cản và xảy ra cự cải, xúc phạm nhau. Huỳnh Ái T dùng dao chặt phá làm thiệt hại nhiều cây do anh Y, chị M trồng trên đất đang quản lý. Sau chặt phá cây, Huỳnh Ái T đi về ném bỏ cây dao không thu hồi được. Anh Y, chị M trình báo chính quyền địa phương đến lập biên bản và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Huỳnh Ái T.
Tại kết luận định giá số: 54/BBKL ngày 23/9/2019 kết luận: Số cây bị thiệt hại gồm: 07 cây dừa ta lùn mới ươm; 05 cây dừa dứa; 03 cây dừa sáp; 27 cây dừa ta lùn trồng được khoảng 30 tháng tuổi; 27 cây mít; 03 cây ổi ghép trồng được khoảng 08 tháng tuổi; 29 cây tràm úc trồng dưới 01 năm tuổi; tổng giá trị 5.102.000 đồng. Ngoài ra, còn có 01 tấm tol xi măng bị bể giá trị 56.000 đồng (không do Thảo gây ra); 14 cây nhàu bị chặt là cây hoang dại mọc tự nhiên không phải do gieo trồng không định giá.
Giai đoạn sơ thẩm, bị cáo T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời 3.000.000 đồng để khắc phục bồi thường.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2020/HS-ST ngày 20/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Huỳnh Ái T 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường; lãi suất chậm thi hành án; án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04 tháng 3 năm 2020, bị cáo Huỳnh Ái T có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại tài sản bị thiệt hại vì chỉ chặt phá 06 cây dừa, 04 cây tràm. Nếu thiệt hại đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì xin được hưởng án treo. Lý do, bị cáo không tiền án, tiền sự; đã tự nguyện khắc phục bồi thường một phần thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình có người thân có công với cách mạng; gia đình neo đơn ít người, đang nuôi mẹ già và con nhỏ. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.
Bị hại anh Nguyễn Phú Y và chị Huỳnh Thị Ái M yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: Bị cáo thấy được sai trái, thành khẩn khai báo, thừa nhận phạm tội; đã nộp đủ tiền khắc phục bồi thường; nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ái T; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 14/2020/HS-ST ngày 20/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử quy kết bị cáo Huỳnh Ái T có hành vi phạm tội như sau: Khoảng 16 giờ ngày 10/9/2019, Huỳnh Ái T thực hiện hành vi dùng dao chặt phá làm thiệt hại nhiều cây ăn trái, cây trồng trên đất đang quản lý của vợ chồng anh Y, chị M gồm: Dừa, Mít, Ổi, Tràm. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại được định giá là 5.102.000 đồng. Nguyên nhân do bị cáo và bị hại có mâu thuẫn tranh chấp đất đã khởi kiện chưa được giải quyết, nhưng bị hại đưa xáng cuốc vào đất đào ao nuôi cá. Bị cáo ngăn cản, hai bên cự cải xúc phạm nhau, bị cáo dùng dao chặt phá cây trồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận đã có hành vi chặt phá cây trồng của anh Y, chị M và thấy được hành vi là vi phạm pháp luật, phạm tội. Bị cáo yêu cầu xem xét số lượng và giá trị cây bị thiệt hại vì chặt phá không nhiều như án sơ thẩm đã xử. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận có chặt phá cây của bị hại nhưng không xác định được số lượng cụ thể. Sự việc xảy ra có nhiều người chứng kiến xác định số cây trồng bị chặt phá là do một mình bị cáo T thực hiện, không có người khác cùng tham gia. Ngay khi xảy ra sự việc, chính quyền địa phương đến lập biên bản ghi nhận tổng số cây thiệt hại. Tiếp đến cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định số lượng từng loại cây bị thiệt hại đúng như biên bản ban đầu và quyết định trưng cầu định giá. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận án sơ thẩm quy kết bị cáo T gây thiệt hại nhiều cây trồng, tổng số tiền 5.102.000 đồng theo kết quả định giá là đúng. Hành vi của bị cáo T chặt phá làm hư hỏng hoàn toàn nhiều cây trồng đã xâm hại đến tài sản người khác trái pháp luật, gây thiệt hại về tài sản của bị hại Y và M, vi phạm pháp luật hình sự. Án sơ thẩm số: 14/2020/HS-ST ngày 20/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử bị cáo Huỳnh Ái T phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Ái T nhận thấy: Bị cáo Huỳnh Ái T với vợ chồng bị hại Huỳnh Thị Ái M, Nguyễn Phú Y có mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất chưa được giải quyết nhưng có mối quan hệ gia đình chị em ruột của nhau. Bị cáo bức xúc trong việc ngăn cản bị hại cải tạo đất nên nhất thời thực hiện hành vi phạm tội. Tội phạm do bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thiệt hại tài sản 5.102.000 đồng là không lớn. Trong giai đoạn sơ thẩm và chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp đủ 5.102.000 đồng để khắc phục bồi thường. Nhân thân bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng; chưa tiền án, tiền sự; có thành khẩn khai báo; gia đình có người thân có công với nước (bà cố và bà nội đều là Mẹ Việt Nam anh hùng, nhiều người thân là Liệt sỹ). Vì vậy, ngoài các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự án sơ thẩm đã áp dụng, bị cáo còn có các tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Án sơ thẩm phạt bị cáo 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo, cần chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt 06 tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo vừa thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và yêu cầu phòng ngừa chung.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố Tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ái T; sửa bản án sơ thẩm số: 14/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về hình phạt.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Huỳnh Ái T 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 19/5/2020.
Giao Huỳnh Ái T cho Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Huỳnh Ái T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Công an thành phố Cà Mau; - Viện kiểm sát ND huyện Trần Văn Thời; - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - UBND xã Khánh Bình Tây, huyện TVT; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT( TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Trọng Nhân |