vanban.org

Bản án 41/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 13/08/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
!!!TỈNH!ĐỒNG!NAI!
!
Bản án số: 41/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 13-8-2020
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!ĐỒNG!NAI!

-!Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!

Thẩm"phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân Đào

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Bà Nguyễn Hà Quế Phương

Bà Nguyễn Thị Chi!

- Thư ký phiên toà: Bà Đường Hạc Vương Dung – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Phan Quốc Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2020, tại Hội trường A- Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông!Ben!Van!Ta!(Ta!Ben!Van), sinh năm 1945.

Địa chỉ: 408, SCHLESSINGER ST, ABBEVILLE, LA, 70510 USA.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền: Bà Phạm Thị Hợp, sinh năm 1962.

Địa chỉ: D47, khu phố 1, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền ngày 20/02/2019)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Tạ Nguyệt Thanh – Công ty luật TNHH Khánh An – Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ: 1917, Nguyễn Ái Quốc, Khu phố 3, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn:!Bà!Trần!Thị!Quý, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Số 91/105, Khu phố 1, phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

"Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:" Luật sư Phạm Thị Hòa – Công ty luật TNHH Lê Huỳnh – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: 233/1, đường Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Ta, luật sư Thanh vắng mặt; Bà Hợp, bà Quý, luật sư Hòa có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

-!Theo!đơn!khởi!kiện,!đơn!đề!nghị!vắng!mặt!ngày!20/02/2019!và!các! bản!tự!khai!nguyên!đơn!ông!Ben!Van!Ta!(Ta!Ben!Van)!trình!bày:!

Qua người thân giới thiệu ông và bà Trần Thị Quý tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và có tổ chức lễ cưới ngày 25/7/2018 tại gia đình bà Quý thuộc phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa.

Sau khi cưới ông và bà Quý không chung sống với nhau, ông về Mỹ sinh sống. Ông và bà Quý vẫn liên lạc với nhau nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông không đủ sức khỏe và tài chính để bảo lãnh bà Quý sang Mỹ. Thực tế, ông và bà Quý kết hôn với nhau không vì tình yêu, không chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt nên ông đề nghị được ly hôn với bà Quý.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

Do bận công việc, sức khỏe và điều kiện đi lại khó khăn nên ông xin được vắng mặt tại buổi làm việc, hòa giải, xét xử của Tòa án.

-!Tại!các!bản!tự!khai!trong!hồ!sơ!vụ!án!bà!Trần!Thị!Quý!trình!bày:!

Bà quen biết với ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) thông qua cháu họ của bà là chị Phạm Thị Nhung, qua thời gian tìm hiểu bà và ông Ta có tình cảm với nhau và quyết định tiến tới hôn nhân. Bà và ông Ta tiến hành các thủ tục kết hôn từ tháng 6/2018 và đăng ký kết hôn tại UBND thành phố Biên Hòa theo giấy chứng nhận kết hôn số 180/2018 ngày 20/7/2018. Sau khi kết hôn ông Ta quay trở về Mỹ và nói sẽ làm thủ tục bảo lãnh bà sang Mỹ để sống với ông. Bà đã đưa ông Ta số tiền 20.000USD thông qua cháu bà là chị Nhung, sau khi nhận được tiền ông Ta đến văn phòng luật sư nộp hồ sơ bảo lãnh, khi có giấy báo của đại sứ quán là đã nhận hồ sơ của ông Ta thì ông Ta lại yêu cầu bà ly hôn vì ông không đủ khả năng bảo lãnh. Ông Ta có nói với bà nếu bà làm thủ tục ly hôn thì ông Ta sẽ trả đủ cho bà số tiền 20.000USD. Hiện nay ông Ta đã thanh toán cho bà số tiền 10.000USD, số tiền còn lại ông Ta chưa thanh và chỉ đồng ý thanh toán khi bà ký đơn ly hôn.

Nhận thấy, hôn nhân giữa bà với ông Ta không có tình cảm nên đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Ta bà đồng ý nhưng với điều kiện ông Ta phải thanh toán số tiền mà ông đã nhận của bà là 10.000USD. Tuy nhiên, bà sẽ xem xét, khởi kiện ông Ta bằng 01 vụ án dân sự đối với số tiền 10.000USD.

Về tài sản chung, nợ chung, con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn- Luật sư Hòa trình bày: Ông Ta, bà Quý tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/7/2018. Đối với yêu cầu xin ly hôn của ông Ta đề nghị Tòa án không chấp nhận. Vì lý do, hiện tại ông Ta đang sống tại Mỹ không về Việt Nam và vẫn còn nợ bà Quý số tiền 10.000USD nên việc thực hiện trả tiền cho bà Quý rất khó, nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Ta thì bà Quý rất khó khăn trong việc đòi lại tiền, nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Ben Van Ta, cho bà Quý có thời hạn 12 tháng để đòi tiền ông Ta ở bên ngoài Tòa án, sau khi bà Quý đòi được số tiền 10.000 USD thì bà Quý sẽ chủ động nộp đơn xin ly hôn tại tòa.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Đồng Nai:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ông Ta, bà Quý tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/7/2018 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn ông Ta, bà Quý không chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho ông Ta được ly hôn với bà Quý. Về con chung, tài sản chung, nợ chung ông Ta, bà Quý khai không có nên không xét.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) hiện đang sinh sống tại địa chỉ 408, SCHLESSINGER ST,. ABBEVILLE, LA, 70510 USA, quốc tịch Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai theo điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 469 và Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, luật sư Tạ Nguyệt Thanh là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ta đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Ta, luật sư Thanh.

[3] Về nội dung vụ án: Ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) và bà Trần Thị Quý tự nguyện kết hôn, trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 180 ngày 20/7/2018 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Ta cho rằng thực tế hôn nhân giữa ông với bà Quý không có tình yêu, vợ chồng không chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt nên xin được ly hôn với bà Quý. Bà Quý đồng ý ly hôn với ông Ta nhưng với điều kiện ông Ta phải trả cho bà Quý số tiền là 10.000USD.

Xét thấy, ông Ta và bà Quý đều thừa nhận sau khi kết hôn ông, bà không chung sống với nhau, vợ chồng không có tình cảm. Đồng thời, qua xác minh Ủy ban nhân dân phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa cung cấp, sau khi tổ chức bữa ăn cơm chung tại gia đình bà Quý, ông Ta không chung sống với bà Quý tại phường Tân Phong từ ngày 25/7/2018 cho đến nay. Nhận thấy, hôn nhân giữa ông Ta, bà Quý không có tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt, vi phạm Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Ta, xử cho ông Ta được ly hôn với bà Quý.

Đối với ý kiến của bà Quý đồng ý ly hôn với ông Ta nhưng với điều kiện ông Ta phải trả cho bà Quý số tiền là 10.000USD là không có cơ sở. Dành quyền khởi kiện cho bà Quý đối với ông Ta liên quan đến số tiền 10.000USD bằng một vụ án dân sự.

[4] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông Ta, bà Quý khai không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì"các"lẽ"trên,"

"

QUYẾT!ĐỊNH:

!

Căn cứ các Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 469, Điều 470, Điều 474, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Áp dụng các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 123, Điều 124 và Điều 127 của Luật Hôn nhân gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Ben Van Ta (Ta Ben Van). Ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) được ly hôn với bà Trần Thị Quý.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 005281 ngày 08/3/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Bà Trần Thị Quý được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Ben Van Ta (Ta Ben Van) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ