vanban.org

Bản án 41/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 20/10/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Bích H với anh Jhong Yi Y.

Xử cho chị Nguyễn Bích H, sinh năm 1994 được ly hôn với anh Jhong Yi Y, sinh năm 1973. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Bích H xác định không có, không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Bích Huyền xin ly hôn anh Jhong Yi Yi"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Bích H với anh Jhong Yi Y.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2020/HNGĐ-ST
Ngày 20 - 10 - 2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Liêu Bích Nga

Ông Trần Thanh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 73/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Bích H, sinh năm 1994, (có mặt)

Địa chỉ: ấp Thị Trấn A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam.

2. Bị đơn: Anh Jhong Yi Y, sinh năm 1973, (vắng mặt)

Địa chỉ: Đông Phục Hưng, thôn Phục Kim, làng Trúc Khi, huyện Gia Nghĩa, Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/12/2019 và biên bản lấy lời khai ngày 09/01/2020, nguyên đơn chị Nguyễn Bích H trình bày: Chị và anh Jhong Yi Y tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy nhân dân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/12/2018. Sau khi kết hôn, từ tháng 12/2018 đến tháng 4/2019, chị và anh Jhong Yi Y chung sống với nhau được khoảng 02 lần, mỗi lẫn từ 07 - 10 ngày tại khách sạn Thành phố Hồ Chí Minh. Anh Jhong Yi Y có làm thủ tục bảo lãnh chị sang Đài Loan để vợ chồng chung sống, nhưng chị phỏng vấn không đạt nên từ tháng 4/2019 đến nay anh Jhong Yi Y không sang Việt Nam thăm chị nữa và cũng không còn quan tâm gì đến chị. Nay chị xác định anh Jhong Yi Y không còn yêu thương, quan tâm lo lắng cho chị và tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Jhong Yi Y.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có con chung, tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Jhong Yi Y: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Jhong Yi Y theo quy định của pháp luật. Ngày 15/7/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhận được Văn bản số 1506/BTP-PLQT, ngày 07/7/2020 của Bộ Tư pháp Việt Nam thông báo kết quả ủy thác tư pháp cho anh Jhong Yi Y với nội dung: “…Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp vào ngày 31/3/2020 bằng phương thức: Chuyển cho người sống chung cùng đương sự”. Tuy nhiên, anh Jhong Yi Y không sang Việt Nam tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

+ Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Quá trình giải quyết Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

+ Về nội dung vụ án: Hôn nhân của chị H và anh Yi Y là hôn nhân hợp pháp, hiện nay chị H không thể sang Đài Loan để vợ chồng đoạn tụ và anh Jhong Yi Y không còn quan tâm đến chị H và cũng không sang Việt Nam để vợ chồng chung sống, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và điều kiện để anh chị đoàn tụ không còn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Bích H, xử cho chị Nguyễn Bích H được ly hôn với anh Jhong Yi Y. Về con chung, tài sản chung và nợ chung chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết; án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và lệ phí ủy thác tư pháp chị Nguyễn Bích H phải chịu toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Jhong Yi Y là người nước ngoài, có quốc tịch Đài Loan và đang cư trú tại địa chỉ: Số 25, Đông Phục Hưng, thôn Phục Kim, làng Trúc Khi, huyện Gia Nghĩa, Đài Loan, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hòa giải, triệu tập xét xử đối với anh Jhong Yi Y theo quy định của pháp luật, nhưng anh Jhong Yi Y không sang Việt Nam tham gia phiên hòa giải, phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nên căn cứ điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với anh Jhong Yi Yi.

Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Bích H với anh Jhong Yi Y. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H và anh Jhong Yi Y tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn do Ủy nhân dân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 07/12/2018, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa anh Jhong Yi Y và chị Nguyễn Bích H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật Việt Nam bảo vệ. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai của chị Nguyễn Bích H có cơ sở xác định, sau khi kết hôn anh Jhong Yi Y chỉ chung sống với chị H trong một thời gian ngắn thì anh Jhong Yi Y về Đài Loan, anh chị không liên lạc với nhau từ tháng 4/2019 đến nay, đều đó cho thấy cả hai đã không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và hiện nay chị H không đủ điều kiện sang Đài Loan để vợ chồng đoàn tụ, còn anh Jhong Yi Y thì không sang Việt Nam để tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân của chị và anh Jhong Yi Y không thể hàn gắn để chung sống với nhau được nữa, nên yêu cầu được ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, theo đó thì giữa chị Nguyễn Bích H và anh Jhong Yi Y đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, hiện nay anh Jhong Yi Y và chị H không còn liên lạc với nhau, làm cho hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thực hiện được do mỗi người ở một nơi không thể đoàn tụ. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Jhong Yi Y như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Theo chị Nguyễn Bích H xác định, chị và anh Jhong Yi Y không có con chung, tài sản chung và nợ chung, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự về hôn nhân và gia đình sơ thẩm và lệ phí ủy thác tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Bích H phải chịu toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; Điều 238; Điều 273; Điều 280; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 474; khoản 5 Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Bích H với anh Jhong Yi Y.

Xử cho chị Nguyễn Bích H, sinh năm 1994 được ly hôn với anh Jhong Yi Y, sinh năm 1973.

2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Bích H xác định không có, không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí dân sự về hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Bích H phải chịu 300.000đ, chị Nguyễn Bích H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu số 0010247 ngày 27 tháng 12 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu, được chuyển thu án phí.

4. Lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn Bích H phải chịu 200.000đ, chị Nguyễn Bích H đã nộp lệ phí ủy thác tư pháp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu số 0010147 ngày 09 tháng 01 năm 2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu đã chuyển thu lệ phí không được hoàn lại.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Nguyễn Bích H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Jhong Yi Y có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ, hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TANDCC tại Tp.HCM;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bạc Liêu;

- UBND huyện Hòa Bình;

- Cục THADS tỉnh Bạc Liêu;

(đã ký)

- Đương sự;

- Lưu HS, Tổ HCTP.

Bùi Anh Tuấn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ