- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị P yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn P"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị P, cho chị P được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2020/HNGĐ-ST Ngày: 07-8-2020 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Nam Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hạnh, bà Trịnh Thị Yến.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị P, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn V, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 4 năm 2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Lê Thị P trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn P tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào ngày 24/01/2019 (âm lịch) trên cơ sở tự nguyện, nhưng do chưa đủ tuổi nên đến ngày 29/5/2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy chứng nhận kết hôn số 18. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 4 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thể nói chuyện bình thường được với nhau, không có tiếng nói chung trong mọi việc. Do mâu thuẫn trầm trọng nên đến ngày 21/6/2019 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm gì tới nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Văn C sinh ngày 24/12/2019. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 24/4/2020 và trong quá trình xét xử, bị đơn Nguyễn Văn P trình bày:
Về hôn nhân: Vợ chồng anh kết hôn vào ngày 29/5/2019 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường. Nguyên nhân là do mâu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu nên chị P tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống kể từ ngày 20/7/2019 đến nay. Trong thời gian ly thân, tình cảm vợ chồng cũng dần phai nhạt. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì con còn quá nhỏ, anh muốn con anh có đầy đủ cả bố và mẹ nên anh không đồng ý ly hôn với chị P.
Về con: Vợ chồng có một con chung như chị P trình bày. Nếu ly hôn anh đồng ý để cho chị P nuôi con, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị P không yêu cầu.
Về tài sản: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử (HĐXX) đã ra quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh P vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt anh P.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, còn bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật. Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị P, cho chị P được ly hôn anh P; về con giao cháu Nguyễn Văn C cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về án phí chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng dân sự: Chị Lê Thị P có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Văn P. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, anh Nguyễn Văn P vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh P.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị P và anh Nguyễn Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị P trình bày là do vợ chồng tính tính không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong mọi việc, còn theo anh P trình bày thì mâu thuẫn phát sinh chủ yếu là mâu thuẫn giữa mẹ chồng với con dâu, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2019 đến nay. Cả hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh P yêu cầu được đoàn tụ chỉ vì lý do con còn nhỏ là chưa đủ cơ sở pháp lý để chấp nhận. Do đó HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị P, cho chị P được ly hôn anh P là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Văn C sinh ngày 24/12/2019. Do cháu C còn nhỏ tuổi nên HĐXX thấy cần giao cháu C cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị P không yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tài sản: Hai bên đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.
Về án phí: Chị Lê Thị P phải chịu án phí DSST về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị P, cho chị P được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
2. Về con: Giao cháu Nguyễn Văn C sinh ngày 24/12/2019 cho chị Lê Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh P có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lê Thị P phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2019/0010723 ngày 21/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn, chị P đã nộp đủ án phí DSST.
Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Nga Sơn; - UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Nam Tiến |